Bản án 49/2021/HS-PT ngày 16/06/2021 về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG

BẢN ÁN 49/2021/HS-PT NGÀY 16/06/2021 VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI NGƯỜI TỪ ĐỦ 13 TUỔI ĐẾN DƯỚI 16 TUỔI

Ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2021/TLPT-HS, ngày 05-5- 2021 đối với bị cáo Ngô Thanh Hải Đ do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2021/HS-ST ngày 30/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil.

Bị cáo bị kháng cáo: Ngô Thanh Hải Đ, sinh ngày 11-4-2000 tại tỉnh Đăk Nông; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; trình độ học vấn:

11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Làm nông; con ông: Ngô Thanh H, sinh năm 1969 và bà Trần Thị L, sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: Không; tại ngoại – Có mặt.

Bị hại kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Minh A, sinh ngày 10-3-2003; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Thanh Hải Đ (sinh ngày 11-4-2000), trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông có quen biết, kết bạn với Nguyễn Thị Minh A (sinh ngày 10-3- 2003), trú tại thôn Đ, xã Đắk S, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông qua mạng xã hội Facebook. Kể từ khi quen biết nhau, Đ và A thường nhắn tin qua lại trò chuyện nên đã phát sinh tình cảm với nhau.

Vào ngày 20-7-2018, là ngày sinh nhật của ông Ngô Thanh H (bố đẻ của Đ) nên Đ gọi điện thoại rủ A ra nhà chơi và nhờ A chở Đ đi mua quà sinh nhật cho ông Ngô Thanh H thì A đồng ý. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, A một mình điều khiển xe máy đi đến nhà Đ (lúc này chỉ có một mình Đ ở nhà) và vào phòng ngủ của Đ ngồi lên giường nói chuyện với Đ được khoảng 20 phút thì Đ chủ động cởi bỏ quần áo của mình và Ánh rồi nằm đè lên bụng A và đưa dương vật vào âm hộ của A để thực hiện hành vi giao cấu với A, giao cấu được khoảng 05 phút thì Đ xuất tinh vào âm hộ của A, quá trình giao cấu thì A không có phản ứng để mặc cho Đ giao cấu. Sau khi giao cấu với A xong, Đ và A chở nhau đi mua quà sinh nhật cho ông Ngô Thanh H rồi quay về lại nhà Đ, sau đó A điều khiển xe máy đi về nhà.

Nguyễn Thị Minh A biết mình đã có thai với Ngô Thanh Hải Đ nhưng vẫn giấu gia đình, trong quá trình sinh hoạt thấy A có biểu hiện bất thường nên ngày 11-3-2019, gia đình đã đưa A đi siêu âm thì phát hiện A đã có thai được 36 tuần.

Đến ngày 31-3-2019, Nguyễn Thị Minh A sinh một cháu trai và đặt tên Nguyễn Hoàng Bảo K. Sau khi A sinh con thì đến ngày 30-6-2019, hai bên gia đình của Đ và A đã thỏa thuận chu cấp nuôi dưỡng cháu K số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Số tiền chu cấp được chia làm 03 đợt, đợt 1 chu cấp 01 năm là 24.000.000 đồng (gia đình Đ đã chu cấp nuôi dưỡng cháu K 24.000.000 đồng), đợt 2 chu cấp 05 năm là 120.000.000 đồng, đợt 3 chu cấp 12 năm là 288.000.000 đồng. Do hai bên gia đình A và Đ không thống nhất được việc chu cấp cho cháu K nên ngày 17-9-2020, gia đình A đã làm đơn trình báo đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại kết luận giám định số 1147/C09C-Đ3 ngày 09-11-2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: cháu Nguyễn Hoàng Bảo K là con đẻ của Nguyễn Thị Minh A với Ngô Thanh Hải Đ.

Kết quả xét nghiệm HIV của trung tâm y tế huyện Đắk Mil thể hiện Ngô Thanh Hải Đ Âm tính (-).

Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2021/HS-ST ngày 30-3-2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil quyết định: Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh Hải Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thanh Hải Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại 14.900.000đ.

Buộc bị cáo Ngô Thanh Hải Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng Bảo K số tiền 2.000.000 đồng/ 01 tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu K đủ 18 tuổi, được trừ số tiền bị cáo đã tác động gia đình bồi thường trước đó là 24.000.000 đồng.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 08-4-2021, bị hại Nguyễn Thị Minh A kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận bị Tòa án huyện Đắk Mil xử phạt về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Bị hại giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt và mức bồi thường, sửa bản án sơ thẩm về phần cấp dưỡng.

Bị cáo chấp nhận cấp dưỡng nuôi cháu K với số tiền 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi và tiền bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật. Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại cho rằng bị cáo dụ dỗ, ép buộc bị hại thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Xét thấy, các lời khai của bị hại tại Cơ quan điều tra (có bà Lê Thị V là mẹ của bị hại tham gia), bị hại đều thừa nhận giữa bị hại và bị cáo có quan hệ yêu đương, việc quan hệ tình dục ngày 20-7- 2018 do hai bên đồng thuận là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và diễn biến khách quan của vụ án. Vì vậy lời trình bày của bị hại tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm là không có căn cứ. Thời điểm giao cấu, bị cáo đã thành niên, bị hại mới 15 tuổi 4 tháng, do đó Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo Ngô Thanh Hải Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Đối với đề nghị tăng hình phạt: Xét mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là tương xướng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, bởi lẽ bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

[2.2]. Đối với đề nghị tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định buộc bị cáo phải bồi thường 14.900.000đ tương đương với 10 tháng lương tối thiểu theo quy định hiện hành của Nhà nước, đây là mức bồi thường tối đa. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo và bị hại không thỏa thuận được với nhau, đồng thời bị hại không cung cấp thêm tài liệu mới chứng minh cho yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại. Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức bồi thường tổn thất tinh thần.

[3]. Về phần cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Hoàng Bảo K: Mặc dù không có kháng cáo, kháng nghị, tuy nhiên, xét thấy cấp sơ thẩm quyết định “…thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi”, đồng thời không ấn định thời gian cấp dưỡng cụ thể và người nhận tiền cấp dưỡng là chưa đảm bảo quyền lợi của cháu Nguyễn Hoàng Bảo K, cũng như cho việc thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tinh thần các quy định pháp luật về cấp dưỡng tại khoản 3 Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ấn định thời điểm cấp dưỡng là thời điểm cháu K được sinh ra (ngày 31-3-2019), sửa bản án sơ thẩm bị cáo phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng Bảo K số tiền 2.000.000 đồng/tháng vào ngày 05 hàng tháng được trừ đi số tiền 24.000.000đ mà gia đình bị cáo đã cấp dưỡng trước đó tương ứng với thời gian là 12 tháng, như vậy bị cáo phải tiếp tục cấp dưỡng nuôi cháu K kể từ ngày 01-4-2020, thời điểm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng căn cứ theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người nhận tiền cấp dưỡng là chị Nguyễn Thị Minh A.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 1 khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Minh A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Minh A, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 05/2021/HS-ST ngày 30-3-2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil về phần hình phạt và phần bồi thường, sửa bản án sơ thẩm về phần cấp dưỡng.

1.1 Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thanh Hải Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội“Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

1.2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 586 và 592 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Ngô Thanh Hải Đ phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín và tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho bị hại chị Nguyễn Thị Minh A số tiền 14.900.000 đồng.

Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự để tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tiền bồi thường nêu trên.

1.3 Buộc bị cáo Ngô Thanh Hải Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng Bảo K số tiền 2.000.000 đồng/tháng vào ngày 05 hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày 31-3-2019, được trừ số tiền bị cáo đã tác động gia đình cấp dưỡng trước đó là 24.000.000đồng, bị cáo phải tiếp tục cấp dưỡng kể từ ngày 01-4-2020. Chị Nguyễn Thị Minh A là người nhận tiền cấp dưỡng.

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

131
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2021/HS-PT ngày 16/06/2021 về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Số hiệu:49/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về