Bản án 49/2019/HSST ngày 24/04/2019 về tội môi giới mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 49/2019/HSST NGÀY 24/04/2019 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2019 đối với:

Bị cáo: Phạm Thị H – sinh năm: 1990 tại Phú Thọ; HKTT và trú tại: Khu A, xã V, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đình H và bà Phạm Thị Đ (đã chết); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Có chồng là Nguyễn Hữu Q (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2009; Theo Danh chỉ bản số: 101 lập ngày 25/01/2019 tại Công an quận Tây Hồ và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo bị bắt ngày 10/01/2019, hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 18/01/2019(có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn L – sinh năm: 1986; HKTT: Xã Nghi Bản, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 09/01/2019, Hoàng Văn L và Phùng Đức M nảy sinh ý định tìm gái mại dâm để mua dâm với giá 3.000.0000đ. Qua mối quan hệ xã hội, L có số điện thoại của Phạm Thị H là gái bán dâm. L lấy số điện thoại 0589294437 gọi vào số điện thoại 0365521360 của H để thỏa thuận việc mua bán dâm qua điện thoại như sau: H sẽ trực tiếp bán dâm và rủ thêm 01 gái bán dâm khác để bán dâm cho L và Mai. Giá bán dâm là 1.000.000đ/người/lần bán dâm và 1.000.000đ cho riêng H để trả tiền taxi và công môi giới.

Khoảng 13 giờ ngày 10/01/2019, L và Mai đến nH nghỉ Sao Băng (địa chỉ: Số nH 18, phố Nghi Tàm, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội) thuê 02 phòng số 202 và số 402. L vào phòng 202, Mai vào phòng 402 đợi H và gái mại dâm đến. Cùng lúc đó, Phạm Thị H đang đi chơi cùng Vũ Thị Vân nên rủ Vân đi bán dâm cùng. H nói với Vân tiền bán dâm là 1.000.000đ, nếu làm tốt khách sẽ thưởng thêm và cho tiền taxi đi lại. Vân đồng ý đi bán dâm cùng H . Sau đó, Vân và H đi taxi đến nH nghỉ Sao Băng để bán dâm như đã thỏa thuận với L . H vào phòng 202 bán dâm cho L , Vân vào phòng 402 bán dâm cho Mai. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi giao cấu với nhau thì tổ công tác CAQ Tây Hồ phối hợp với Công an phường Yên Phụ kiểm tra hành chínhành nghỉ Sao Băng và phát hiện các đối tượng L , H , Mai, Vân đang mua bán dâm. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ tang vật và đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.

Vật chứng thu giữ:

- 02 bao cao su đã qua sử dụng;

- 02 vỏ bảo cao su Romax đã bóc;

Thu giữ của Phạm Thị H :

- 01 điện thoại di động Iphone X màu đen đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng; 

Thu giữ của Hoàng Văn L : Số tiền 3.000.000đ

Tại cơ quan điều tra, Phạm Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với các đối tượng Hoàng Văn L , Phùng Đức Mai đã thực hiện hành vi mua dâm Phạm Thị H và Vũ Thị Vân, ngày 12/3/2019, Công an quận Tây Hồ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với L, Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Đối với các đối tượng Phạm Thị H , Vũ Thị Vân đã thực hiện hành vi bán dâm cho Hoàng Văn L , Phùng Đức Mai, ngày 12/3/2019, Công an quận Tây Hồ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với H, Vân theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone X đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Thị H , xét thấy không liên quan đến vụ án, ngày 12/03/2019, Cơ quan CSĐT – CAQ Tây Hồ trao trả cho Phạm Thị H . H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Cáo trạng số: 48/CT-VKSTH ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo Phạm Thị H về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi theo như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Mục đích bị cáo bán dâm và môi giới cho Vân bán dâm vì gần Tết cần tiền để về quê với con, hoàn cảnh bị cáo khó khăn mẹ chết sớm từ khi bị cáo được 9 tuổi, đã ly hôn chồng một mình nuôi con. Tháng 01/2019, bị cáo chuyển hộ khẩu từ Yên Bái và sinh sống tại nH bố đẻ ở xã Văn Lang, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: hành vi của bị cáo Phạm Thị H đã đủ cấu thành tội: Môi giới mại dâm theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnhkhó khăn mẹ chết sớm, đã ly hôn chồng một mình nuôi con nhỏ; Gia đình có đơn xin bảo lãnh, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo H mức án từ 08 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 16 đến 24 tháng.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su Romax đã bóc;

- Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Thị H và số tiền 3.000.000đ thu giữ của Hoàng Văn L ;

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận địnhànhư sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/01/2019, tại nH nghỉ Sao Băng địa chỉ: Số nH 18, phố Nghi Tàm, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Phạm Thị H đã có hành vi bán dâm cho đối tượng Hoàng Văn L và môi giới, trung gian dẫn dắt cho Vũ Thị Vân thực hiện việc bán dâm cho Phùng Đức Mai để hưởng lợi 1.000.000đ.

Hành vi của bị cáo Phạm Thị H đã cấu thành tội: Môi giới mại dâm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 328Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. 

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV. Là một người đã trưởng thành, bị cáo cũng nhận thức được tác hại của nạn mại dâm. Tuy nhiên không những bản thân bị cáo thực hiện việc bán dâm mà còn dẫn dắt Vũ Thị H cùng thực hiện hành vi này. Do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiên khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục cũng như để răn đe người khác nếu có hành vi tương tự.

Về tình tiết giảm nhẹ tráchànhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn mẹ đẻ chết sớm, đã ly hôn chồng, một mình nuôi con nhỏ nên được coi là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015; Bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng được chính quyền địa phương xác nhận, gia đình có đơn xin bảo lãnh. Đối chiếu với Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cũng để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có điều kiện để thi hành nên không áp dụng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

[3] Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su Romax đã bóc;

- Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Thị H và số tiền 3.000.000đ thu giữ của Hoàng Văn L do liên quan đến hành vi phạm tội;

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015;

Xử phạt: Phạm Thị H 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã Văn Lang, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụngĐiều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su Romax đã bóc;

- Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Thị H và số tiền 3.000.000đ thu giữ của Hoàng Văn L; (các vật chứng trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2019; số tiền 3.000.000đ hiện có tại Kho bạc nH nước Tây Hồ theo Biên bản giao nhận tài sản ngày 18/01/2019).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


438
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về