Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 49/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 426/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 581/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 622/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T; nơi cư trú: Số 38/62 P, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ngô Doãn D; nơi cư trú: Số 38/62 P, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 04 tháng 7 năm 2019 và tại các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Ngô Doãn D xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán từ năm 1990 nhưng đến ngày 21/01/2014 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, L, Hải Phòng. Đến nay có hai con chung.

Quá trình chung sống: Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ nhiều năm nay nhưng căng thẳng nhất là từ năm 2018. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Từ tháng 01/2019 đến nay hai bên đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Nay bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông D.

- Về con chung: Bà T và ông D có hai con chung là Ngô Doãn H, sinh năm 1990 và Ngô Thúy Q, sinh năm 1992 đều đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập nhưng ông D đều vắng mặt không có lý do. Khi Tòa án đến gặp trực tiếp ông D, giải thích quyền và nghĩa vụ trong vụ án ly hôn cho ông D. Ông D đã nhận được các giấy triệu tập và thông báo của Tòa án đồng thời trình bày quan điểm không muốn ly hôn, nhưng nếu bà T cương quyết ly hôn thì tùy bà quyết định. Về con chung và tài sản chung ông D không có ý kiến gì. Tuy nhiên sau khi trình bày, ông D không ký nhận biên bản làm việc.

Qua việc xác minh tại nơi đăng ký thường trú của bà T, ông D cho thấy trên thực tế bà T đã đi thuê nhà nơi khác ở, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng, thẩm phán và các thành viên khác của Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định pháp luật. Về hướng giải quyết vụ án: Do quá trình chung sống hai bên đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, từ đầu năm 2019 đến nay hai bên đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, bà T có yêu cầu xin ly hôn nên căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Ngô Doãn D. Về con chung bà T và ông D có hai con chung là Ngô Doãn H, sinh năm 1990 và Ngô Thúy Q, sinh năm 1992 đều đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về tài sản chung bà T trình bày hai bên tự thỏa thuận nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Theo đơn khởi kiện, xác nhận của cơ quan công an nơi đăng ký thường trú và qua xác minh tại nơi cư trú thể hiện: Ông Ngô Doãn D đăng ký thường trú tại địa chỉ số 38/62 P, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống tại địa chỉ trên. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 dù đã được triệu tập hợp lệ. Bởi vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Ngô Doãn D kết hôn do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/01/2014 tại Ủy ban nhân dân phường L, Lê Chân, Hải Phòng nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn căng thẳng nhất từ năm 2018 và đã sống ly thân từ tháng 01/2019 đến nay. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Xác minh qua Tổ dân phố nơi cư trú của bà T và ông D cho thấy quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân, không ai quan tâm trách nhiệm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Ngô Doãn D nhưng đều vắng mặt. Ông D đã nhận được các giấy triệu tập và thông báo của Tòa án đồng thời trình bày quan điểm không muốn ly hôn, nhưng nếu bà T cương quyết ly hôn thì ông tùy bà quyết định. Điều này không chỉ thể hiện việc ông D đã tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ mà còn thể hiện việc thiếu thiện chí trong việc hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu và xử cho bà Nguyễn Thị T ly hôn ông Ngô Doãn D.

[4] Về con chung: Bà T và ông D có hai con chung là Ngô Doãn H, sinh năm 1990 và Ngô Thúy Q, sinh năm 1992 đều đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung: Bà T trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Ngô Doãn D.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này bà T đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân theo biên lai thu tiền số 0013404 ngày 21/8/2019.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

205
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:49/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 15/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về