Bản án 49/2019/DS-ST ngày 20/11/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 49/2019/DS-ST NGÀY 20/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 463/2019/TLST-DS, ngày 13/8/2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXXST-DS, ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân K.

Địa chỉ: Số 132 Trần Phú, khóm 3, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Cầu Quan: Ông Viên Anh H – Chức vụ: Giám đốc Quỹ tín dụng nhân dân K, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn B, sinh năm 1987, có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt;

Nơi cư trú: Ấp N, xã M, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22/7/2019, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Viên Anh H trình bày:

Vào ngày 06/4/2018, Quỹ tín dụng nhân dân K và anh Đoàn Văn B có ký hợp đồng tín dụng số: 251.18/HĐTD, với nội dung Quỹ tín dụng nhân dân K cho anh Đoàn Văn B vay số tiền 15.000.0000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, mục đích vay là để mua đồ sinh hoạt gia đình, lãi suất trong hạn 1,2%/tháng, lãi suất quá hạn 1,8%/tháng. Hình thức đảm bảo tiền vay: Tín chấp. Sau khi vay tiền anh Đoàn Văn B không trả tiền vốn và tiền lãi cho Quỹ tín dụng nhân dân K như đã cam kết trong hợp đồng ký kết. Tính đến ngày 20/11/2019, anh Đoàn Văn B còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân K tổng cộng bằng 19.233.000 đồng, trong đó vốn 15.000.000 đồng, lãi trong hạn 2.190.000 đồng, lãi quá hạn 2.043.000 đồng.

Nay ông Viên Anh H đại diện cho Quỹ tín dụng nhân dân K yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Đoàn Văn B có trách nhiệm trả nợ vay cho Quỹ tín dụng nhân dân K tổng cộng 19.233.000 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán xong hợp đồng.

Tài liệu do nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân K cung cấp: Đơn khởi kiện, hồ sơ vay vốn, bản tự khai, bảng kê tính lãi.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2019, bị đơn anh Đoàn Văn B trình bày: Anh Đoàn Văn B thừa nhận vào ngày 06/4/2018, anh có ký vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân K số tiền 15.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 1,2%/tháng, lãi suất quá hạn 1,8%/tháng, thời hạn vay 12 tháng. Hình thức đảm bảo tiền vay: Tín chấp. Sau khi vay tiền anh không đóng lãi cũng như trả vốn cho Quỹ tín dụng nhân dân K nên Quỹ tín dụng nhân dân K khởi kiện.

Anh B thừa nhận tính đến ngày 22/7/2019, anh còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân K số tiền 18.153.000 đồng, trong đó vốn gốc 15.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 2.190.000 đồng, tiền lãi quá hạn 963.000 đồng, anh B đồng ý trả số nợ này cho Quỹ tín dụng và đồng ý trả lãi phát sinh từ ngày 23/7/2019 cho đến khi tất toán xong hợp đồng tín dụng. Anh B yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

Những vấn đề các bên đƣơng sự thống nhất:

Anh Đoàn Văn B thừa nhận tính đến ngày 22/7/2019, anh còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân K số tiền 18.153.000 đồng , trong đó vốn gốc 15.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 2.190.000 đồng, tiền lãi quá hạn 963.000 đồng, anh B đồng ý trả số tiền này và đồng ý trả lãi phát sinh từ ngày 23/7/2019 cho đến khi tất toán xong hợp đồng tín dụng.

Những vấn đề các bên đƣơng sự không thống nhất: Không có.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên bị đơn anh Đoàn Văn B chưa chấp hành đúng theo quy định về việc có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải vụ án.

Về nội dung vụ án: Anh Đoàn Văn B có ký kết với Quỹ tín dụng nhân dân K để vay số tiền 15.000.000 đồng, anh B đã nhận đủ tiền và đồng thời anh cũng thừa nhận còn nợ tiền vốn và tiền lãi của Quỹ tín dụng đúng như Quỹ tín dụng đã khởi kiện. Khi đến hạn trả thì anh B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm sự thỏa thuận như đã ký kết tại hợp đồng tín dụng nên Quỹ tín dụng khởi kiện anh B có nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Quỹ tín dụng. Về án phí buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Vị đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án: Khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. Xét thấy, Quỹ tín dụng nhân dân K là Tổ chức tín dụng, giữa Quỹ tín dụng nhân dân K với anh Đoàn Văn B có ký kết hợp đồng tín dụng nên xác định lại quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn anh Đoàn Văn B cư trú tại ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.

[2] Về tố tụng: Bị đơn anh Đoàn Văn B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số: 251.18/HĐTD, ngày 06/4/2018 thể hiện Quỹ tín dụng nhân dân K có cho anh Đoàn Văn B vay số tiền 15.000.0000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, mục đích vay là để mua đồ sinh hoạt gia đình, lãi suất trong hạn 1,2%/tháng, lãi suất quá hạn 1,8%/tháng. Vay với hình thức: Tín chấp. Sau khi vay cho đến hạn trả nợ anh Đoàn Văn B không trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn là vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, Quỹ tín dụng nhân dân K khởi kiện yêu cầu anh Đoàn Văn B có trách nhiệm trả số nợ gốc, nợ lãi tổng cộng 19.233.000 đồng, trong đó vốn 15.000.000 đồng, lãi trong hạn 2.190.000 đồng, lãi quá hạn 2.043.000 đồng theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91 của uật các tổ chức tín dụng năm 2010.

[4] Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân K.

[5] Về án phí: Anh Đoàn Văn B phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Quỹ tín dụng nhân dân K không phải chịu án phí.

[6] Đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Căn cứ các Điều 116, 117, 317, 318, 319, 463 của Bộ Luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện Quỹ tín dụng nhân dân K.

Buộc anh Đoàn Văn B có nghĩa vụ hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân K số tiền vay còn nợ tổng cộng 19.233.000 đồng (Trong đó vốn gốc là 15.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 20/11/2019 là 4.233.000 đồng).

Kể từ ngày 21 tháng 11 năm 2019 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 251.18/HĐTD, ngày 06/4/2018.

2. Về án phí: Buộc anh Đoàn Văn B phải chịu 961.650 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quỹ tín dụng nhân dân K không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Quỹ tín dụng nhân dân K số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 453.000 theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004500, ngày 12/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/DS-ST ngày 20/11/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:49/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiểu Cần - Trà Vinh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về