Bản án 49/2019/DSST ngày 11/10/2019 về tranh chấp hợp đồng vay

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 49/2019/DSST NGÀY 11/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tiến hành đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 243/2019/2019/TLST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay” theo Quyết định số: 85/2019/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2019/QĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1963 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Ông Bành Văn Bé B, sinh năm 1975 (vắng)

Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh T

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Ngọc N, sinh năm 1977 (vắng)

Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh T

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 7 năm 2019 cũng như lời khai trong quá trình tố tụng, bà Trần Thị L nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 06/6/2018 bà có cho ông Bành Văn Bé B vay 300.000.000 đồng, có làm biên nhận và có bà Lê Thị Phát L1 chứng kiến, không thỏa thuận lãi suất, mục đích vay để đáo hạn ngân hàng, việc vay tiền có bà Lê Thị Ngọc N là vợ của ông Bé B biết vì sau khi vay, đến ngày 11/6/2018 ông Bé B trả vốn cho bà được 100.000.000 đồng, ngoài ra bà N trực tiếp đóng lãi cho bà được 30.000.000 đồng ( một lần 20.000.000 đồng không nhờ ngày tháng; một lần 10.000.000 đồng, đóng vào ngày 10/8/2018). Từ ngày 10/8/2018 đến nay ông Bé B và bà N không đóng lãi và trả vốn cho bà mặc dù bà đã đòi nhiều lần. Nay bà yêu cầu ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N trả vốn là 200.000.000 đồng và tính lãi suất theo quy định của Ngân hàng (kể từ ngày 10/8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/10/2019).

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không sửa đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L buộc ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N phải có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền vốn 200.000.000 đồng và lãi suất theo lãi suất 10%/năm theo Điều 463, 466, khoản 2 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 Án phí dân sự sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định pháp luật. (có phát biểu quan điểm kèm theo).

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận định;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N có trách nhiệm trả nợ. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang cư trú trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh nên yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào biên nhận nợ do bà Trần Thị L cung cấp thể hiện ngày 06/6/2018. Do đó, việc bà Trần Thị L nộp đơn khởi kiện và thụ lý vào ngày 24/7/2019 vẫn trong thời hiệu khởi kiện tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

- Về vốn vay:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N trả cho bà số tiền vốn gốc 200.000.000 đồng và tính lãi 1,5%/tháng từ ngày 08/8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm là (ngày 11/10/2019).

Đối với bị đơn ông Bành Văn Bé B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc N Tòa án đã tống đạt hợp các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng ông Bé B và bà N đều vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Về lãi suất: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L là có cơ sở, bởi tại đơn khởi kiện ngày 18/7/2019 bà Trần Thị Lập yêu cầu ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N trả cho bà 233.000.000 đồng (trong đó vốn: 200.000.000 đồng; lãi 33.000.000 đồng) theo lãi suất 1,5%/tháng. Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bà L, việc bà L yêu cầu ông Bé B và bà N trả vốn gốc 200.000.000đ và tiền lãi trên nợ gốc 1,5%/tháng. Nhưng quá trình vay giữa bà L với ông Bé B không thỏa thuận lãi suất, không thỏa thuận thời hạn trả. Hội đồng xét xử nghĩ nên căn cứ Điều 463, Điều 466 và khỏan 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; buộc ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị L tiền vốn 200.000.000đ và lãi, chiết tính từ ngày 10/8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm (11/10/2019) là 14 tháng 01 ngày (200.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 15 tháng = 23.240.000 đồng.

Tại phiên tòa bà L trình bày khoản tiền mà ông Bé B còn thiếu là nợ chung của vợ chồng ông Bé B với vợ của ông là bà Lê Thị Ngọc N vì mục đích vay tiền là để đáo hạn ngân hàng. Cho nên, cần buộc ông Bé B với bà N có trách nhiệm trả cho bà L số tiền trên là phù hợp với quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L. Tuyên:

Buộc ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị L số tiền 223.240.000 đồng; trong đó: vốn gốc 200.000.000 đồng; lãi 23.240.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Bành Văn Bé B và bà Lê Thị Ngọc N phải chịu 11.167.000 đồng Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/DSST ngày 11/10/2019 về tranh chấp hợp đồng vay

Số hiệu:49/2019/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Trà Vinh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:đang cập nhật
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về