Bản án 49/2018/HS-PT ngày 23/11/2018 về tội tổ chức đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 49/2018/HS-PT NGÀY 23/11/2018 VỀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC

Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2018/TLPT-HS ngày 10 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn H (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 05 tháng 3 năm 1982 tại huyện V, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Khu 4C, thị trấn Nông trường N, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1947 và bà Đào Thị Q, sinh năm 1949; có vợ là Đỗ Thị Vân A, sinh năm 1992 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án: Có 02 tiền án, Bản án số 68/2012/HSST ngày 26/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt Trần Văn H 03 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và Bản án số 50/2016/HSST ngày 28-12-2016 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt Trần Văn H 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”; tiền sự: Không; nhân thân bị cáo: 02 lần (năm 2007, năm 2010) bị xử phạt hành chính; ngày 13-5-2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú; từ ngày 19-6-2018 đến nay được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. (Có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi liên quan: Trịnh Quốc Th - sinh năm 1969, nơi cư trú: Tổ 1, phường T, thị xã L, tỉnh Yên Bái và những người làm chứng: Nguyễn Mạnh D - sinh năm 1982, nơi ĐKHKTT: Tổ 5, phường T1, thị xã L, tỉnh Yên Bái, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Hồng Ca thuộc Bộ Công an; Phùng Xuân Tr - sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn T2, xã B1, huyện V, tỉnh Yên Bái; Đỗ Thành C - sinh năm 1984, nơi cứ trú: Tổ 8, thị trấn Nông trường N, huyện V, tỉnh Yên Bái; Trần Văn L1 - sinh năm 1975, nơi cư trú: Khu 4C, thị trấn Nông trường N, huyện V, tỉnh Yên Bái; Chị Đỗ Thị Vân A - sinh năm 1992, nơi cư trú: Khu 4C, thị trấn Nông trường N, huyện V, tỉnh Yên Bái vắng mặt tại phiên tòa do không liên quan đến nội dung kháng cáo, không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 23 giờ, ngày 11-6-2017, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Yên Bái phát hiện và bắt giữ tại lán dựng tạm ở đồi chè của ông Đào Xuân H1 thuộc tổ 5A, thị trấn Nông trường S, huyện V, tỉnh Yên Bái có nhiều đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền; thu giữ trên chiếu bạc và hòm kim loại để tại chiếu bạc số tiền 104.000.000 đồng, thu giữ trên người các đối tượng bị bắt giữ tổng số tiền là 58.930.000 đồng và một số đồ vật, tài sản khác. Đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều tra truy tố, xét xử xong 04 bị cáo về tội tổ chức đánh bạc, 15 bị cáo về tội đánh bạc. Tại thời điểm cơ quan Công an bắt quả tang, Trần Văn H không có mặt tại nơi đánh bạc, cơ quan điều tra đã khởi tố điều tra đối với Trần Văn H về tội tổ chức đánh bạc, đến ngày 10-5-2018 Trần Văn H đến cơ quan Công an tỉnh Yên Bái đầu thú.

Kết quả điều tra, bị cáo Trần Văn H khai nhận: Từ khoảng đầu tháng 5-2017 bị cáo và Nguyễn Mạnh D đã gặp nhau cùng bàn bạc thống nhất tìm và thuê đất tại khu vực đồi chè của ông Đào Xuân H1 với giá 800.000 đồng/tháng để mở sới đánh bạc. Sau khi thuê đất Trần Văn H đã giao cho Phùng Xuân Tr trú tại thôn T2, xã B1, huyện V mua sắm chuẩn bị các vật liệu, vật dụng mang lên mảnh đất đã thuê cùng Nguyễn Mạnh D và những người khác tiến hành dựng lán. Phùng Xuân Tr làm nhiệm vụ thu phế, cảnh giới, quản lý tiền thu được sau mỗi canh bạc và mang dụng cụ để đánh bạc lên sới bạc, cất dụng cụ khi kết thúc canh bạc. Nguyễn Mạnh D làm nhiệm vụ rủ rê người đến sới bạc, trực tiếp thuê Đỗ Thành C xóc cái, thuê Trần Văn K trông xe cho những người đến đánh bạc và cùng Phùng Xuân Tr cảnh giới cho những người đến đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn tiền nhiều ngày; mỗi ngày tổ chức hai cạnh bạc, mỗi canh bạc có khoảng 30 người chơi, tiền phế vào sới bạc từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/người/canh bạc. Bị cáo H và Nguyễn Mạnh D thống nhất chia nhau theo tỉ lệ H 70%, D 30% tổng số tiền phế thu được. Từ khi dựng lán mở sới đánh bạc đến thời điểm bị bắt quả tang bị cáo H và Nguyễn Mạnh D chưa tính toán, chia tiền thu được từ việc tổ chức đánh bạc vì trước đó đã thống nhất giao cho Phùng Xuân Tr quản lý để sau khi kết thúc canh bạc đêm ngày 11-6- 2017 (tròn 01 tháng tổ chức đánh bạc) thì mới tính toán số tiền thu được để chia nhau. Nhưng đến 23 giờ ngày 11-6-2017 thì bị Công an tỉnh Yên Bái bắt quả tang thu giữ toàn bộ số tiền trên chiếu bạc. Số tiền thu được từ các canh bạc trước đó đến canh bạc đêm ngày 11-6-2017 Phùng Xuân Tr đã giao tiền và tờ giấy ghi chi tiết số tiền có được từ việc tổ chức đánh bạc, số tiền cho vay, người vay tiền cho Nguyễn Mạnh D để D quản lý và cho vay hộ. D đồng ý rồi ghi chép lại vào một tờ giấy khác và hủy tờ giấy Tr đưa; tờ giấy ghi chép việc thu chi D đã làm rơi khi bỏ chạy trong đêm ngày 11-6-2017, cơ quan điều tra không thu giữ được. Quá trình điều tra, Phùng Xuân Tr và Nguyễn Mạnh D không nhớ được cụ thể số tiền thu chi, cho vay. Do vậy cơ quan điều tra không đủ căn cứ để chứng minh mức thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2018/HS-ST ngày 31-7-2018, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 249; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 20 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn H 03 (Ba) năm tù được khấu trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 10-5-2018 đến ngày 13-5-2018). Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Hình phạt bổ sung: Xử phạt tiền bị cáo Trần Văn H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 09-8-2018, bị cáo Trần Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với các lý do là lao động chính, vợ không có việc làm, có ba con còn nhỏ; bản thân bị bệnh phải điều trị theo định kỳ; sau khi phạm tội đã nhận ra khuyết điểm, thật sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Đồng thời bị cáo xuất trình 01 biên lai thu tiền của Chi cục thi hành án dân sự huyện V về khoản 20.000.000,đồng tiền phạt; 01 giấy ra viện kèm theo bản tóm tắt bệnh án điều trị nội trú của Bệnh viện đa khoa Đ; 01 xác nhận của Công an thị trấn Nông trường N, huyện V về việc Trần Văn H đã tham gia phát hiện, bắt giữ 01 vụ trộm cắp tài sản và 02 vụ vi phạm pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thấy rằng bị cáo sau khi xét xử sơ thẩm đã có những việc làm cụ thể thể hiện sự ăn năn hối cải, đã tích cực giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạm khác được Công an thị trấn Nông trường N xác nhận là tình tiết giảm nhẹ mới “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” cần được áp dụng cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm p, điểm r khoản 1 Điều 46 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần cho bị cáo được hưởng chế định quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H; sửa bản sơ thẩm số: 30/2018/HS-ST ngày 31-7-2018 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái theo hướng: Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 249; điểm p, r khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 và Điều 20 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung là phạt tiền 20.000.000,đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Ý kiến của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để sớm được trở về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai và nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ ngày 11-6-2017 bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Mạnh D và đồng phạm đã tổ chức cho nhiều người đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền tại lán dựng trên đất đồi chè thuê của ông Đào Xuân H1 thuộc tổ 5A, thị trấn Nông trường S, huyện V, tỉnh Yên Bái thì bị phát hiện, bắt quả tang 24 người đang đánh bạc, thu giữ trên chiếu bạc và hòm kim loại để tại chiếu bạc số tiền 104.000.000 đồng, thu giữ trên người các đối tượng bị bắt giữ tổng số tiền 58.930.000 đồng và một số đồ vật, tài sản khác cùng toàn bộ công vụ sử dụng vào việc đánh bạc.

Bị cáo Trần Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tổ chức đánh bạc là xâm phạm trật tự công cộng và vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bất chính nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Trước lần phạm tội này do bị cáo đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó việc Tòa án nhân dân huyện V đã xét xử và tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức đánh bạc” với tình tiết tăng nặng định khung là “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội.

[2] Xét khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá đúng vai trò của bị cáo là người có vai trò cao hơn các bị cáo Nguyễn Mạnh D và Phùng Xuân Tr trong việc tổ chức đánh bạc; là người có nhân thân không tốt; phạm tội vì mục đích thu lợi bất chính nên đã xử phạt bị cáo hình phạt tù và phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; bố, mẹ bị cáo là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú tại Cơ quan Công an tỉnh Yên Bái; trong khoảng thời gian tháng 4 và tháng 5-2017 trước khi phạm tội bị cáo đã hai lần cung cấp thông tin giúp Công an thị trấn Nông trường N làm rõ và xử lý hai vụ vi phạm hành chính có xác nhận của Trưởng công an thị trấn Nông trường N là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Trần Văn H đã xuất trình thêm chứng cứ là đã tự nguyện nộp khoản tiền phạt 20.000.000,đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm, thể hiện bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình; bị cáo còn xuất trình thêm chứng cứ là xác nhận của Trưởng Công an thị trấn Nông trường N, huyện V về việc sau khi bị xét xử sơ thẩm bị cáo đã tích cực tham gia phát hiện, bắt giữ 01 vụ trộm cắp tài sản; cung cấp thông tin để Công an thị trấn Nông trường N kịp thời xử lý 02 vụ việc vi phạm hành chính. Những tình tiết này thể hiện rõviệc bị cáo đã ăn năn hối cải và còn có những hành động giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, bắt kẻ phạm tội, ngăn chặn các tội phạm khác được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận. Theo hướng dẫn tại điểm b mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đây là tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng xem xét đến việc quyết định hình phạt của các bị cáo khác cùng đồng phạm với bị cáo đã bị xét xử trước đó như Nguyễn Mạnh D là người cùng bàn bạc thống nhất với bị cáo trong việc thuê địa điểm, dựng lán tổ chức đánh bạc đã bị xử phạt với mức 01 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Như vậy, xét bị cáo là người có nhiều tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy xét thấy cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước ta. Trong trường hợp này bị cáo có đủ điều kiện để xem xét áp dụng chế định quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999, nên kháng cáo của bị cáo là có căn cứ để chấp nhận và sửa bản án Hình sự sơ thẩm số: 30/2018/HS-ST ngày 31-7-2018 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tại phiên tòa.

Việc sửa bản án sơ thẩm là do có tình tiết mới tại phiên toà phúc thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Trần Văn H được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2018/HS-ST ngày 31-7-2018 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái như sau:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

* Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 249; điểm p, r khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 và Điều 20 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù được khấu trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 10-5-2018 đến ngày 13-5-2018). Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Trần Văn H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo Trần Văn H đã nộp đủ khoản tiền phạt theo biên lai thu tiền số AA/2010/004190 ngày 15-10-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Yên Bái.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


153
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2018/HS-PT ngày 23/11/2018 về tội tổ chức đánh bạc

Số hiệu:49/2018/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Yên Bái
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về