Bản án 48/2017/HS-ST ngày 26/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 48/2017/HS-ST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2017/HSST ngày 11/9/2017 đối với bị cáo:

Đồng Văn T, sinh năm 1984 tại Vĩnh Long; Nơi cư trú: Tổ 16, khóm Đông Thuận, phường A, thị xã X, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Đồng Thanh S và bà Nguyễn Thị Thanh P; Anh chị em ruột: Không

Tiền án: 04 lần

+ Vào ngày 29/10/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xử phạt 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

+ Vào ngày 10/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (chưa xóa án tích)

+ Vào ngày 11/9/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (chưa xóa án tích)

+ Vào ngày 09/6/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đang chờ chấp hành án

Tiền sự: 02 lần (Ngày 01/2/2010, Ủy ban nhân dân huyện Bình Minh (nay là thịn xã Bình Minh) ra quyết định đưa vào Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Vĩnh Long cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng; Ngày 01/7/2011, Ủy ban nhân dân huyện Bình Minh (nay là thị xã Bình Minh) ra quyết định đưa vào Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Vĩnh Long cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

Bị bắt tạm giam từ ngày 05/7/2017 đến nay(Có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại: Trần Thị Thúy H, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Trú tại: Tổ 28, khóm Đông Bình A, phường A, thị xã X, tỉnh Vĩnh Long.

 - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

1. Lương Minh S, sinh năm 1948 (Vắng mặt)

Trú tại: Khóm Đông Thuận, phường A, thị xã X, tỉnh Vĩnh Long.

2. Lương Minh P, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Trú tại: Khóm Đông Thuận, phường A, thị xã X, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đồng Văn T và Lương Minh P (Tự là: Chú Tiểu) là bạn bè chơi chung với nhau, hai đối tượng đều nghiện ma túy. Bản thân Đồng Văn T có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích.

Vào trưa ngày 13/6/2017, T đi bộ đến nhà P rủ P đi ra chợ Bình Minh ăn bún riêu P đồng ý, nên P mượn chiếc xe mô tô biển số 64HA- 017.99 của ông Lương Minh S (là cha của P) để chở T đi ra chợ Bình Minh, P điều khiển xe chở T đến tiệm tạp hóa Thúy Hằng thuộc tổ 28, khóm Đông Bình A, phường A, thị xã X, tỉnh Vĩnh Long thì P dừng xe lại đậu cặp quốc lộ 54 còn T thì đi vào tiệm tạp hóa để mua thuốc hút. Khi T đi vào tiệm tạp hóa để mua thuốc hút thì T không thấy ai ở trong tiệm. Lúc này T nhìn thấy hai thùng bia Sài Gòn hiệu Lager màu xanh để trong tiệm nên T nảy sinh ý định lấy trộm hai thùng bia đó, T liền đi lại lấy trộm hai thùng bia rồi đem ra xe chổ P đang đậu, T để hai thùng bia lên xe rồi kêu P chở T về hướng chợ Bình Minh thì P đồng ý. P điều khiển xe chở T và hai thùng bia chạy lên dốc cầu Cái Vồn nhỏ (Cầu sắt cũ) thì xe bị hư nên P và T xuống xe dẫn bộ đi qua phường B thì bị lực lượng Công an nghi ngờ và mời về trụ sở làm việc. Qua làm việc T thừa nhận hết toàn bộ hành vi lấy trộm hai thùng bia của tiệm tạp hóa Thúy Hằng (do chị Trần Thị Thúy H làm chủ) định đem về sử dụng thì bị bắt, còn Lương Minh P không biết việc T lấy trộm hai thùng bia nhưng khi T kêu P chở hai thùng bia chạy về hướng chợ Bình Minh thì P đồng ý, nhưng chưa sử dụng bia thì bị bắt.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 43 ngày 23/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản kết luận “02 thùng bia lon Sài Gòn hiệu Lager màu xanh mà T lấy trộm của chị H có giá trị 440.000đ” (Bốn trăm bốn mươi ngàn đồng)

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 47/KSĐT ngày 11/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố Đồng Văn T để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự; điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt:

Bị cáo Đồng Văn T từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Người bị hại đã nhận tài sản là 02 thùng bia Sài Gòn lại xong và ông S nhận chiếc xe mô tô biển số 64HA-017.99 lại xong không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đồng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 13/6/2017, Đồng Văn T đã lén lút lấy trộm 02 thùng bia Sài Gòn hiệu Lager màu xanh của chị H có giá trị 440.000đ tại tiệm tạp hóa của chị H.

[3] Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác một cách trái pháp luật, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người bị hại không ai trông coi tài sản nên thực hiện hành vi trộm cắp, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tập trung cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội và tác động răn đe phòng ngừa hành vi tương tự có thể xảy ra.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản thu hồi trả người bị hại nhận xong và không yêu cầu gì đối với bị cáo nên cần áp dụng điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân có 04 lần tiền án và 02 lần tiền sự nhưng chưa xóa án tích nên cần xử bị cáo trên mức khởi điểm và cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trần Thị Thúy H đã nhận tài sản là 02 thùng bia Sài Gòn hiệu Lager màu xanh lại xong và người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

[8] Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 64HA-017.99 của ông Lương Minh S cho P mượn sử dụng và P chở T đi trộm cắp tài sản của chị H, ông  S không biết việc P chở T trộm cắp tài sản, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho ông S xong và ông S không yêu cầu gì thêm.

Đối với Lương Minh P không biết việc T lấy trộm tài sản và không có bàn bạc trước với P, nhưng khi T lấy trộm hai thùng bia xong đem ra kêu P chở đi thì P đồng ý nên hành vi của P không đủ cơ sở để xử lý hình sự nên giao P cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục.

[9] Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đồng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự. Các điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Đồng Văn T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận người bị hại Trần Thị Thúy H đã nhận tài sản là 02 (hai) thùng bia Sài Gòn hiệu Lager màu xanh lại xong và không có yêu cầu gì thêm.

3. Về vật chứng: Chấp nhận Cơ quan điều tra trả lại cho ông Lương Minh S nhận lại xong chiếc xe mô tô biển số 64HA-017.99

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Đồng Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết tại chính quyền địa phương, có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm./.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2017/HS-ST ngày 26/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:48/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bình Minh - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về