Bản án 48/2015/KDTM-PT ngày 22/12/2015 về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 48/2015/KDTM-PT  NGÀY 22/12/2015 VỀ TRANH CHẤP YÊU CẦU THỰC HIỆN NGHĨA VỤ BẢO LÃNH

Ngày 22 tháng 12 năm 2015, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 12/2015/TLPT-KDTM ngày 09 tháng 02 năm 2015 về việc “Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 38/2014/KDTM-ST ngày 24/04/2012 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1301/2015/QĐ-PT ngày 30/11/2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

Trụ sở: số 57 Huỳnh Thúc Kháng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: ông Đỗ Thanh Minh - Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I (theo Giấy ủy quyền số 4424/UQ-VNPT-PCTT ngày 06/8/2015); có mặt.

* Bị đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

Trụ sở: Số 18, Trần Hữu Dực, khu đô thị mới Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Phó giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội và bà Nguyễn Hồng Hạnh - Phó Giám đốc PGD Tân Mai, phụ trách pháp chế của Ngân hàng (theo Giấy ủy quyền số 1198/UQ-NHNoHN ngày 04/9/2015); đều có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH thương mại và đầu tư Hồng Quang.

Trụ sở: 32, Trần Xuân Soạn, phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Bà Phan Thị Hồng - Giám đốc Công ty; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và đầu tư Hồng Quang: Luật sư Nguyễn Đình Hưng - Văn phòng luật sư Hưng Giang, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; vắng mặt (có đơn xin hoãn phiên tòa).

NHẬN THẤY

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2011 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam do ông Đỗ Thanh Minh - Phó Giám đốc Công ty Dịch vụ Viễn thông - đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 02/3/2010, giữa Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I (gọi tắt là VNP1) thuộc Công ty Dịch vụ Viễn thông (gọi tắt là VNP hay Vinaphone) là đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (sau đây gọi tắt là VNPT) và Công ty TNHH thương mại đầu tư Hồng Quang (gọi tắt là Công ty Hồng Quang) có ký kết Hợp đồng đại lý cung cấp dịch vụ TTDĐ trả tiền trước số 04/VNP1-TLĐ-HQG (sau đây gọi tắt là hợp đồng 04). Theo Hợp đồng này thì VNP1 giao cho Công ty Hồng Quang làm đại lý phân phối và bán tại Việt Nam các sản phẩm thẻ trả trước/Mệnh giá nạp tiền qua SMS (E-Load), thẻ SIM VinaCard/VinaDaily/Vinatext/E-load, bộ trọn gói ban đầu, bộ hòa mạng máy đầu cuối có kèm tài khoản, các sản phẩm khác/thiết bị USB Model. Trong Hợp đồng này, các bên còn thỏa thuận về thù lao đại lý, thời hạn thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên... Hợp đồng 04 có hiệu lực từ ngày ký đến hết ngày 31/12/2010 và có thể được gia hạn nhiều lần, mỗi lần là 06 tháng. Ngày 29/11/2010, hai bên ký phụ lục gia hạn Hợp đồng 04 từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/6/2011. Sau khi ký kết Hợp đồng, hai bên thực hiện việc mua bán hàng bình thường và không có tranh chấp.

Ngày 18/10/2010, giữa VNP và hai đại lý là Công ty Thanh Lâm và Công ty Hồng Quang có ký kết thỏa thuận bán hàng trên cơ sở các Hợp đồng đại lý đã ký kết. Theo đó, Công ty Hồng Quang cam kết mua hàng trong 03 tháng 10, 11, 12/2010 với tổng trị giá là 1.820.000.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận:

- Về chính sách bán hàng:

+ Tỷ lệ chiết khấu: chiết khấu áp dụng ngày với thẻ vật lý là 6,7%, mã thẻ và mệnh giá E-Load 7,5%; chiết khấu bổ sung: thẻ cào vật lý 0,3%; mã thẻ và mệnh giá E-Load 0,5%.

+ Quyền mua Kit: cứ 01 tỷ đồng mệnh giá thẻ đại lý được quyền mua 2.000 Kit.

- Cam kết của các bên:

+ Về phía Vinaphone: hạn chế tối đa việc cấp hàng cho VNPT Tỉnh, Thành để bán buôn cho đến hết ngày 28/02/2011. Từ ngày 19/10/2010 đến ngày 28/02/2011, các đại lý khác có nhu cầu mua thẻ cào vật lý thì phải thanh toán ngay (tỷ lệ chiết khấu áp dụng theo Công văn số 2849/VNP-KD ngày 31/8/2010; không áp dụng các hình thức khuyến khích khác như ưu tiên mua Kit, thanh toán chậm bảo lãnh Ngân hàng; chiết khấu bổ sung tháng, chiết khấu bổ sung thanh toán ngay...). Xét chi trả chiết khấu bổ sung cuối năm và các hình thức thưởng khi đại lý hoàn thành doanh số cam kết và thanh toán đủ tiền hàng cho Vinaphone.

+ Về phía đại lý: Chủ động phối hợp và điều tiết giá thẻ bán ra theo quy định của Vinaphone, nhằm ổn định giá thị trường với mức chiết khấu không lớn hơn 7,5%. Đảm bảo hoàn thành doanh số từng tháng theo đúng cam kết, không nhận chiết khấu bổ sung và các hình thức thưởng áp dụng cho toàn bộ đợt mua hàng này nếu không hoàn thành doanh số cam kết. Có trách nhiệm cung cấp số liệu bán hàng, số lượng hàng tồn nếu Vinaphone có yêu cầu.

Thực hiện văn bản thỏa thuận nói trên, đại lý Hồng Quang có yêu cầu và VNP1 cấp hàng là các loại thẻ trả trước, mệnh giá nạp tiền qua SMS với tổng trị giá là 1.820.000.000.000 đồng theo đúng thỏa thuận trong văn bản. Sau khi trừ các khoản chiết khấu, Công ty Hồng Quang còn phải thanh toán cho VNP1 số tiền 1.697.475.600.000 đồng. Công ty Hồng Quang đã thanh toán cho VNP1 là 1.026.826.600.000 đồng và trả lại hàng là 622.464.125.000 đồng. Số tiền nợ còn lại là 48.184.875.000 đồng đến nay Công ty Hồng Quang vẫn chưa thanh toán cho VNP1.

Về thực hiện chính sách bán hàng: VNP1 đã thực hiện việc chiết khấu ngay trên các hóa đơn bán hàng cho Công ty Hồng Quang. Đối với số chiết khấu bổ sung thì do Công ty Hồng Quang chưa thanh toán nên VNP1 chưa có cơ sở để trả chiết khấu bổ sung. Đối với quyền mua Kit trong thời hạn thực hiện thỏa thuận bán hàng, Công ty Hồng Quang không đặt mua Kit nhưng sau đó có 03 lần đặt mua Kit với số lượng trị giá mỗi lần là 468.000.000 đồng; VNP1 vẫn chấp nhận cho Công ty Hồng Quang mua nên đã giao hàng và Công ty Hồng Quang đã thanh toán xong, hai bên không có ý kiến gì.

Trong thời gian từ ngày 18/10/2010 đến ngày 20/12/2010, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (sau đây gọi tắt là ngân hàng) đã phát hành nhiều Thư bảo lãnh thanh toán cho Công ty Hồng Quang mua hàng tại VNP1 với tổng giá trị bảo lãnh là 1.048.432.284.000 đồng. Khi đến hạn thanh toán, Công ty Hồng Quang không thanh toán được. Hết thời hạn bảo lãnh, Ngân hàng cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty Hồng Quang theo đúng các Thư bảo lãnh. VNP1 đã có nhiều văn bản yêu cầu nhưng Ngân hàng vẫn không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Đến nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu như đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc Ngân hàng thanh toán trả nợ thay cho Công ty Hồng Quang số tiền 48.184.875.000 đồng theo Thư bảo lãnh thanh toán số 1500VSB201220102 do Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội phát hành ngày 20/12/2010 và tiền lãi chậm trả tính đến ngày 29/02/2012 là 6.426.361.000 đồng.

* Bị đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trình bày:

Về quá trình thực hiện Hợp đồng số 04 ngày 02/3/2010 và Văn bản thỏa thuận bán hàng ngày 18/10/2010 giữa VNP1 với Công ty Hồng Quang thì Ngân hàng không có ý kiến gì.

Thư bảo lãnh thanh toán số 1500VSB201220102 do Ngân hàng phát hành ngày 20/12/2010 với nội dung: “Bảo lãnh này bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho Trung tâm Dịch vụ Viễn thông Khu vực I theo Hợp đồng số 04/VNP1-TLĐ-HQG ngày 02/3/2010 và Phụ lục Hợp đồng ngày 29/11/2010 giữa Công ty TNHH TM và đầu tư Hồng Quang và Trung tâm Dịch vụ Viễn thông Khu vực I.

- Số tiền bảo lãnh: 130.620.000.000 đồng (bằng chữ: một trăm ba mươi tỷ sáu trăm hai mươi triệu đồng chẵn).

Ngân hàng No & PTNT Hà Nội chúng tôi cam kết trả cho Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I số tiền nêu trên khi hết hạn thanh toán của Hợp đồng, ngay sau khi nhận được văn bản của Quý đơn vị nên lên rằng Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang chưa thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng nói trên”.

Bảo lãnh thanh toán là có điều kiện, khi VNP1 có văn bản yêu cầu Ngân hàng thanh toán thì phải kèm theo các văn bản chứng minh nghĩa vụ trả nợ của Công ty Hồng Quang. Qua tài liệu, chứng cứ chứng minh Công ty Hồng Quang và VNP1 đang vi phạm Hợp đồng 04 và Phụ lục hợp đồng ngày 29/11/2010 cũng như Bản thỏa thuận bán hàng ngày 18/10/2010, đến nay hai bên chưa xác nhận được công nợ, quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và đang xảy ra tranh chấp trong việc chiết khấu và thanh toán được quy định tại Bản thỏa thuận bán hàng nên chưa đủ cơ sở để Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh như nguyên đơn yêu cầu. Đề nghị VNP1 và Công ty Hồng Quang phải khẩn trương giải quyết những mâu thuẫn và đối chiếu làm rõ khoản công nợ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty Hồng Quang do bà Phan Thị Hồng đại diện trình bày:

Công ty Hồng Quang có ký kết Hợp đồng 04 với VNP1. Sau đó, hai bên có ký Phụ lục gia hạn thời hạn thực hiện hợp đồng từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/6/2011. Về nội dung Văn bản thỏa thuận ngày 18/10/2010 ký giữa Vinaphone với Công ty Hồng Quang như đại diện nguyên đơn trình bày là đúng. Tổng giá trị tiền hàng mà VNP1 đã giao cho Công ty Hồng Quang là 1.820.000.000.000 đồng. Theo Biên bản thanh quyết toán công nợ ngày 01/6/2011 thì Công ty Hòng Quang đã thanh toán được tổng số tiền là 1.649.290.725.000 đồng (đã trừ tiền chiết khấu áp dụng ngay theo hóa đơn), còn nợ 48.184.875.000 đồng. VNP1 còn nợ Công ty Hồng Quang tiền chiết khấu bổ sung là 8.678.251.973 đồng và 2.691.489 bộ Kit. Đối trừ, Công ty Hồng Quang chỉ còn nợ VNP1 39.506.623.027 đồng.

Về chính sách bán hàng: Công ty Hồng Quang xác nhận VNP1 đã thanh toán số tiền chiết khấu áp dụng ngay trên hóa đơn. Số tiền chiết khấu bổ sung hai bên chưa quyết toán nên VNP1 chưa thanh toán cho Công ty Hồng Quang. Về quyền mua Kit: trong thời gian thực hiện hợp đồng và phụ lục hợp đồng thì Công ty Hồng Quang đã nhiều lần trực tiếp yêu cầu VNP1 cho mua Kit theo doanh số bán hàng nhưng VNP1 không thực hiện.

Công ty Hồng Quang không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đối với Ngân hàng vì lý do: hai bên đã thống nhất trong Bản thanh quyết toán công nợ ngày 01/6/2011 là việc thanh toán tiền hàng của Công ty Hồng Quang và việc trả sim của VNP1 phải được thực hiện cùng với nhau. VNP1 phải ra chương trình sim đồng bộ trên thị trường. Công ty Hồng Quang đề nghị VNP1 phải cho Công ty Hồng Quang thực hiện quyền mua Kit theo thỏa thuận tại Hợp đồng số 04 và Văn bản thỏa thuận ngày 18/10/2010.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 38/2012/KDTM-ST ngày 24/4/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

“1. Xác nhận Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang còn nợ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam số tiền 48.184.875.000 đồng là tiền nợ mua hàng theo Hợp đồng đại lý số 04/VNP1-TLĐ-HQG ký ngày 02/3/2010 giữa Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I với Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang và Bản thỏa thuận bán hàng số 01/01/2010/VNP-TLĐ ký ngày 18/10/2010 giữa Công ty Dịch vụ viễn thông với hai đại lý Thanh Tâm, Hồng Quang.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đồng ý thanh toán cho Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang số tiền chiết khấu bổ sung theo thỏa thuận giữa các bên tại Bản thỏa thuận bán hàng số 01/01/2010/VNP-TLĐ ký ngày 18/10/2010 giữa Công ty Dịch vụ Viễn thông với hai đại lý Thanh Tâm, Hồng Quang theo tính toán của nguyên đơn là 3.544.435.000 đồng. Đối trừ số tiền nợ với số tiền chiết khẩu bổ sung thì Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang còn nợ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam số tiền 44.640.440.000 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đồng ý cho Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang mua Kit theo Hợp đồng đại lý số 04/VNP1-TLĐ-HQG ký ngày 02/3/2010 giữa Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực I với Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang và Bản thỏa thuận bán hàng số 01/01/2010/VNP-TLĐ ký ngày 18/10/2010 giữa Công ty Dịch vụ Viễn thông với hai đại lý Thanh Tâm, Hồng Quang tính trên doanh số thực tế mua hàng đến thời điểm này.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam thanh toán cho Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam thay Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Hồng Quang số tiền 44.640.440.000 đồng theo Thư bảo lãnh thanh toán số 1500VSB201220102 do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội phát hành ngày 20/12/2010 và tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm (24/4/2012) là 6.562.756.193 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 51.203.196.193 đồng”.

Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Trong các ngày 04/5 và 24/5/2012, Ngân hàng cũng như Công ty Hồng Quang đều kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 206/2012/KDTM-PT ngày 13/12/2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm nêu trên.

Ngân hàng và Công ty Hồng Quang có đơn đề nghị giám đốc thẩm Bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 11/KDTM-KN ngày 17/4/2014, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 206/2012/KDTM-PT ngày 13/12/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 38/2012/KDTM-ST ngày 24/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 18/2014/KDTM-GĐT ngày 09/10/2014, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định: Hủy Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 206/2012/KDTM-PT ngày 13/12/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội) đã thụ lý lại vụ án để giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội cũng đã có buổi triệu tập các đương sự trong vụ án để làm rõ tính hợp pháp của Biên bản thanh quyết toán công nợ ngày 01/6/2011 cũng như hòa giải giữa các bên nhưng không có kết quả.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn là Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông Việt Nam xác nhận nội dung vụ án, tiến trình giải quyết vụ án như đã nêu trên và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn là Ngân hàng khai nhận ngày 04/5/2012 đã kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm với các lý do: 1/Hai bên VNP1 và công ty Hồng Quang không thanh toán được công nợ với nhau do đó Ngân hàng không có cơ sở để thanh toán cho VNP1; 2/ Không có nghĩa vụ phải thanh toán theo giá trị bảo lãnh nên Ngân hàng không có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền lãi chậm trả 6.562.756.193 đồng; 3/ Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm tố tụng đó là quyền tranh luận của bị đơn. Hội đồng xét xử đã không cho phía Ngân hàng trình bày quan điểm của mình để làm sáng tỏ vấn đề chỉ được một lần duy nhất đối đáp với Luật sư; Ngân hàng vẫn xác định nghĩa vụ trả nợ thay Công ty Hồng Quang, tuy nhiên Công ty Hồng Quang và VNP1 chưa thanh lý Hợp đồng 04 là đối tượng trong bảo lãnh nên không có căn cứ để Ngân hàng thanh toán cho VNP1 và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Công ty Hồng Quang xác nhận ngày 24/5/2012 đã kháng cáo bản án sơ thẩm và đề nghị: Tòa án xác định số tiền Công ty Hồng Quang chưa thanh toán cho VNP1 là 39.506.623.027 đồng; Công ty Hồng Quang được hưởng chiết khấu bổ sung là 8.678.251.973 đồng; VNP1 phải trả Hồng Quang 2.691.489 SIM và thanh toán tiền chiết khấu bổ sung; xác định đồng thời nghĩa vụ thanh toán của Công ty Hồng Quang với việc VNP1 trả dần SIM cho Công ty Hồng Quang; xác định Ngân hàng chưa phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao sau khi phân tích, đánh giá nội dung, quá trình giải quyết vụ án có quan điểm: Căn cứ nhận định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Quyết định giám đốc thẩm thì con số mà Tòa án cấp sơ thẩm buộc Ngân hàng phải thanh toán là con số suy diễn, không có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên cũng vẫn tranh chấp nhau về số nợ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có quan điểm: Bản chất ba bên VNP1 - Công ty Hồng Quang - Ngân hàng đều chấp nhận số nợ trên bảo lãnh là 48.184.875.000 đồng. Ngân hàng bảo lãnh không điều kiện nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm với lý do: Tại phiên tòa này, Công ty Hồng Quang đã có mặt và đã có điều kiện để Hội đồng xét xử làm rõ những vướng mắc giữa các bên; Công ty Hồng Quang được quyền mua Kit nhưng đã không có đơn đặt mua cũng như không được hưởng chiết khấu bổ sung. 

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở trình bày, tranh luận của các bên đương sự, kết luận của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

XÉT THẤY

  Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam khởi kiện bị đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các bên đương sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt đầy đủ, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo nên vụ án được xét xử công khai.

Hồ sơ vụ án thể hiện hầu hết các tài liệu do nguyên đơn hoặc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cung cấp đều là bản photo copy không được công chứng, chứng thực theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn được Tòa án cấp sơ thẩm xác định là chứng cứ đã vi phạm Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Ngày 02/03/2010, Trung tâm dịch vụ Viễn thông khu vực I thuộc Công ty dịch vụ Viễn thông là đơn vị thành viên của VNPT và Công ty Hồng Quang ký kết Hợp đồng 04. Theo Hợp đồng này, VNP1 giao cho Công ty Hồng Quang làm đại lý phân phối và bán tại Việt Nam các sản phẩm thẻ trả trước/mệnh giá nạp tiền qua SMS (E-Load), thẻ SIM VinaCard/VinaDaily/VinaText/Eload bộ trọn gói ban đầu, bộ hòa mạng máy đầu cuối có kèm tài khoản, các sản phẩm khác/thiết bị USB Modem. Trong Hợp đồng này, các bên còn thỏa thuận về thù lao đại lý, về thời hạn thanh toán, về quyền và nghĩa vụ của các bên… Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ký đến hết ngày 31/12/2010 và có thể được gia hạn nhiều lần, mỗi lần 06 tháng. Ngày 29/11/2010, hai bên ký Phụ lục hợp đồng 04 gia hạn hợp đồng nói trên đến hết ngày 30/6/2011. Ngày 18/10/2010, hai bên còn ký kết Thỏa thuận bán hàng số 01, theo đó các bên thỏa thuận về tỷ lệ chiết khấu, quyền mua Kit, trách nhiệm của Vinaphone, trách nhiệm của đại lý. Hai bên cũng thỏa thuận mọi sự thay đổi, điều chỉnh đều phải được thể hiện bằng văn bản và có chữ ký xác nhận của mỗi bên mới có hiệu lực.

Thực hiện văn bản thỏa thuận bán hàng, Công ty Hồng Quang đã yêu cầu VNP1 cấp hàng với tổng trị giá là 1.820.000.000.000 đồng. Công ty Hồng Quang đã thanh toán cho VNP1 1.026.826.600.000 đồng, trả lại hàng trị giá 622.464.125.000 đồng. Số tiền còn nợ lại 48.184.875.000 đồng đến nay Công ty Hồng Quang vẫn chưa thanh toán cho VNP1.

Trong thời gian từ ngày 18/10/2010 đến ngày 20/12/2010, Ngân hàng đã phát hành nhiều thư bảo lãnh thanh toán cho Công ty Hồng Quang mua hàng tại VNP1 với tổng giá trị bảo lãnh là 1.048.432.284.000 đồng (trong đó có Thư bảo lãnh thanh toán số 1500VSB201220102 ngày 20/12/2010). Khi đến hạn thanh toán, Công ty Hồng Quang không thanh toán được nợ, hết thời hạn bảo lãnh, Ngân hàng cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay như đã cam kết. Vì vậy, VNPT khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Ngân hàng trả nợ thay cho Công ty Hồng Quang số tiền 48.184.875.000 đồng và khoản tiền lãi phát sinh tính đến ngày 29/02/2012 là 6.426.361.000 đồng.

Căn cứ vào Hợp đồng 04, Thỏa thuận bán hàng các bên đã ký kết, Thư bảo lãnh của Ngân hàng thì việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết buộc Ngân hàng phải trả nợ thay cho Công ty Hồng Quang là đúng pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Hồng Quang và VNP1 đã đưa ra Biên bản thanh quyết toán giữa hai bên ngày 01/6/2011. Hồ sơ vụ kiện thể hiện có hai Biên bản thanh quyết toán ngày 01/6/2011 nhưng hai bản này ý kiến của hai bên là Công ty Hồng Quang và VNP1 không thống nhất. Các bên còn tranh chấp nhau về tổng số nợ, khoản tiền được hưởng chiết khấu bổ sung và quyền mua Kit.

Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội cũng đã triệu tập các bên đương sự đến để hòa giải và làm rõ số nợ mà Công ty Hồng Quang phải thanh toán cho VNP1 nhưng không thống nhất được số nợ phải thanh toán cho nhau. Cũng tại buổi làm việc này cho thấy, bản thanh quyết toán hai bên cung cấp là mâu thuẫn với nhau về số tiền phải thanh toán. Cách thức mà các bên đưa ra quan điểm của mình thể hiện trong Biên bản thanh quyết toán công nợ ngày 01/6/2011 đó là Công ty Hồng Quang ký, đóng dấu xác nhận nợ với số tiền phải thanh toán cho VNP1 là 39.506.623.027 đồng; VNP1 nợ Công ty Hồng Quang là 2.691.489 bộ Kit. Biên bản thanh quyết toán công nợ này được Công ty Hồng Quang chuyển cho VNP1 và VNP1 xác nhận: “1/ Số tiền còn nợ trên bảo lãnh 48.184.875.000 đồng; 2/ Các chế độ khác theo thỏa thuận bán hàng ngày 18/10/2010 được cụ thể tại CV số 1838/VNP1 ngày 02/6/2011.” (VNP1 giải trình tại Công văn số 349/VNP ngày 20/02/2012 của VNP1 trả lời TAND thành phố Hà Nội - BL458-460. Nội dung này cũng được VNP1 thể hiện tại Công văn số 2497 ngày 06/8/2015). Như vậy, trên thực tế hai bên đều không công nhận số liệu của nhau đưa ra. Giữa Công ty Hồng Quang và VNP1 chưa thanh lý Hợp đồng 04 và đang còn tranh chấp với nhau về công nợ. Vì vậy, Biên bản thanh quyết toán công nợ ngày 01/6/2011 giữa VNP1 với Công ty Hồng Quang là chưa hợp pháp, chưa có giá trị thanh toán. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Biên bản thanh quyết toán công nợ ngày 01/6/2011 là hợp pháp để buộc Ngân hàng thanh toán theo Thư bảo lãnh là không có căn cứ, không đúng pháp luật. Tại đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Công ty Hồng Quang đều đề nghị Tòa án xác định số tiền Công ty Hồng Quang chưa thanh toán cho VNP1 là 39.506.623.027 đồng; Công ty Hồng Quang được hưởng chiết khấu bổ sung là 8.678.251.973 đồng; VNP1 phải trả Hồng Quang 2.691.489 SIM và thanh toán tiền chiết khấu bổ sung; xác định đồng thời nghĩa vụ thanh toán của Hồng Quang với việc VNP1 trả dần SIM cho Hồng Quang; đại diện phía nguyên đơn là VNP1 cũng vẫn xác định số nợ mâu thuẫn với Công ty Hồng Quang. Do VNP1 và Công ty Hồng Quang chưa thống nhất được với nhau số nợ nên không thể xác định được nghĩa vụ Ngân hàng phải thanh toán cho VNP1 là bao nhiêu. Hơn nữa các vấn đề này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết nên Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận hay không chấp nhận các yêu cầu kháng cáo của Công ty Hồng Quang cũng như kháng cáo của Ngân hàng.

Để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm phải thu thập chứng cứ, giải quyết tranh chấp giữa VNP1 với Công ty Hồng Quang trong việc thực hiện Hợp đồng 04 và Thỏa thuận bán hàng số 01 ngày 18/10/2010. Theo đó xác định số nợ mà Công ty Hồng Quang phải thanh toán cho VNP1 làm căn cứ để buộc Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán thay Công ty Hồng Quang như đã cam kết bảo lãnh.

Từ sự phân tích trên cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ nên việc giải quyết vụ án không đúng pháp luật mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần thiết phải hủy toàn bộ Bản án  kinh doanh thương mại sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.

Từ nhận định trên, căn cứ Điều 275; Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn và một phần kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 38/2012/KDTM-ST ngày 24/4/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để giải quyết lại theo thủ tục chung.

2. Bị đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Công ty Hồng Quang không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được hoàn lại 200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008386 ngày 21/5/2012 và số 0008457 ngày 10/8/2012 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm do nguyên đơn nộp sẽ được xem xét khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.


544
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2015/KDTM-PT ngày 22/12/2015 về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Số hiệu:48/2015/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 22/12/2015
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về