Bản án 47/2019/HS-PT ngày 06/03/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 47/2019/HS-PT NGÀY 06/03/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Tôn Đức T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2018/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T.

Họ và tên bị cáo có kháng cáo:

Tôn Đức T, sinh năm 1986 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi thường trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nơi tạm trú: Khu phố B, phường B, thị xã T1, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tôn Đức T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); có vợ là Trần Thị G, sinh năm 1987; có 02 người con (sinh năm 2013 và năm 2015); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/5/2005, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, còn có 06 người đại diện hợp pháp của bị hại, 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tôn Đức T có giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 740140002633 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 21/12/2015, có giá trị đến ngày 21/12/2020. T làm tài xế lái xe thuê cho ông Mai Đức C.

Vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 10/01/2018, T điều khiển xe ô tô biển số 51C-711.X lưu thông trên đường số 11 thuộc phường T theo hướng từ ngã tư C giáp đường ĐHX về hướng nhà văn hóa phường T giáp đường ĐHY. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc tổ X, khu phố K, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương, lúc này phía trước cùng chiều với hướng xe ô tô do T điều khiển có xe đạp do ông Nguyễn Hữu T2 điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước, T điều khiển xe ô tô vượt bên trái xe đạp do ông T2 điều khiển, do không giữ khoảng cách an toàn khi vượt nên mặt ngoài thanh cản bảo vệ bên hông phải của xe ô tô biển số 51C-711.X va chạm vào mặt ngoài khuỷu tay trái của ông T2, làm ông T2 mất thăng bằng té ngã xuống đường, bị bánh xe phía sau bên phải xe ô tô biển số 51C-711.X cán qua người. Va chạm làm ông T2 tử vong tại hiện trường, xe đạp bị hư hỏng.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường số X thuộc khu phố K, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương, mặt đường trải nhựa phẳng, không có vạch sơn trắng kẻ đường, mặt đường rộng 04m.

Chọn trụ đèn số 07 bên lề phải theo hướng từ đường ĐHY về đường ĐHX làm điểm mốc, khoảng cách từ điểm mốc đo đến trục trước bên trái xe ô tô biển số 51C-711.X là 02m. Chọn mép đường bên phải theo hướng đường ĐHX về đường ĐHY làm lề chuẩn để đo đạc hiện trường.

Hiện trường để lại một xe ô tô, một xe đạp nhãn hiệu Martin và nạn nhân đã tử vong trên mặt đường.

Nạn nhân trong tư thế nằm úp, đầu nạn nhân bị lốp xe ô tô cán qua biến dạng, quay hướng về nhà văn hóa và cách lề phải theo hướng lưu thông là 0,8m và cách trục sau bên phải xe ô tô là 2,9m; chân nạn nhân quay theo hướng ngã tư C cách lề 0,9m và cách trục trước xe đạp là 0,9m.

Xe đạp ngã bên trái, đầu xe hướng về ngã tư C, trục xe trùng mép lề phải, đuôi xe hướng về nhà văn hóa, trục sau nằm dưới mép lề phải theo hướng lưu thông cách mép lề là 0,3m, trục sau cách trục sau bên phải xe ô tô là 3,3m.

Xe ô tô sau tai nạn dừng trên đường, đầu xe hướng về nhà văn hóa, đuôi xe hướng về ngã tư C, trục trước cách lề phải 01m, trục sau bên phải cách mép lề phải theo hướng lưu thông là 0,6m.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T tạm giữ: 01 (một) xe đạp, màu sơn: Bạc, nhãn hiệu: Martin; 01 (một) xe ô tô, giấy chứng nhận đăng ký và giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật xe ô tô biển số 51C-711.X, nhãn hiệu: HINO, loại xe: Ôtô tải, số khung: 1JPU8XX13473, số máy: J08CF30372; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Tôn Đức T.

Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 27/PC54-GĐPY ngày 14 tháng 01 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Hữu T2 là do đa chấn thương, chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ, dập não).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Tôn Đức T và ông Mai Đức C đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường và đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2018/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Tôn Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Tôn Đức T01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/10/2018, bị cáo Tôn Đức T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với các lý do: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ của bị cáo đi xuất khẩu lao động, bị cáo phải nuôi 02 người con nhỏ (sinh năm 2013 và năm 2015), cha ruột của bị cáo là người có công với cách mạng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, bị cáo có cha ruột là người có công với cách mạng. Đồng thời, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi 02 người con nhỏ, cha mẹ của bị cáo đã chết, vợ của bị cáo đi xuất khẩu lao động. Tuy nhiên, hiện nay tình hình tai nạn giao thông đang diễn biến phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo. về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là nặng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, do đó có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo với mức giảm từ 02 (hai) tháng đến 03 (ba) tháng tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung xin được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 10/01/2018 tại đoạn đường thuộc tổ X, khu phố K, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Tôn Đức T điều khiển xe ô tô biển số 51C-711.X lưu thông vượt bên trái xe đạp do bị hại Nguyễn Hữu T2 điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước, mặt ngoài thanh cản bảo vệ bên hông phải của xe ô tô do bị cáo điều khiển đã va chạm vào mặt ngoài khuỷu tay trái của bị hại T2, làm bị hại T2 mất thăng bằng té ngã xuống đường, bị bánh xe phía sau bên phải xe ô tô do bị cáo điều khiển cán qua người. Hậu quả làm bị hại T2 tử vong tại hiện trường, xe đạp bị hư hỏng.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe không đảm bảo an toàn là vi phạm quy định tại Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ, hậu quả gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại Nguyễn Hữu T2. Đồng thời, gây tâm lý bất an cho những người tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình an toàn giao thông đường bộ tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết bị cáo có cha ruột là ông Tôn Đức T1 được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo từng bị kết án nhưng tính chất, mức độ của tội phạm mới mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng án treo đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là phù hợp.

[5]. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Tôn Đức T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2018/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T về hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Tôn Đức T 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Tôn Đức T không phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


46
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về