Bản án 47/2018/HS-ST ngày 24/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 47/2018/HS-ST NGÀY 24/04/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Văn C; tên gọi khác: Không; sinh năm 1973 tại huyện Y, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Tiểu khu bệnh viện 1, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Đỗ Thị C (đã chết); có vợ là Đinh Thị Nh, sinh năm 1975 và 01 con 17 tuổi; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 01 năm 2018 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người chứng kiến: Anh Vũ Văn A, sinh năm 1988; Trú tại: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12/01/2018 Trần Văn C đi bộ một mình từ nhà đến bản Ch, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La mục đích để tìm mua ma túy mang về sử dụng, tại bản Ch, C đã gặp một người đàn ông không quen biết đang đi xe máy trên đường và tìm mua ma túy, C và người đàn ông đó rủ nhau đến bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La để mua ma túy. Khi đến bản P, xã V, huyện V, C gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc mông không quen biết 02 nilon một gói màu xanh, một gói nilon màu hồng, bên trong đều đựng chất bột màu trắng và 01 viên nén màu hồng đựng trong gói nilon màu xanh với giá 150.000 đồng. Người đàn ông đi cùng C hỏi mua được 200.000 đồng ma túy.  Sau khi mua được ma túy, mỗi người lấy ra một ít để sử dụng, sau đó C gói số ma túy của mình lại và cầm trong lòng bàn tay trái, người đàn ông dùng xe máy chở C đi về. Khi đi đến bản B, xã V thì gặp tổ công tác công an huyện V kiểm tra, C xuống xe thì người đàn ông điều khiển xe máy bỏ chạy, tổ công tác truy đuổi nhưng không truy bắt được, C bị tổ công tác bắt và thu giữ số ma túy trong người.

Cùng ngày, tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng số chất bột màu trắng và 01 viên nén màu hồng thu giữ của Trần Văn C. Kết quả cân tịnh gói nilon màu xanh đựng viên nén màu Hồng có khối lượng 0,09 gam lấy toàn bộ 0,09 gam làm mẫu giám định ký hiệu “C”, gói nilon màu xanh đựng chất bột màu trắng có khối lượng 0,09 gam lấy 0,03 gam làm mẫu giám định ký hiệu “C2”, gói nilon màu hồng đựng chất bột màu trắng có khối lượng 0,26 gam lấy 0,03 gam làm mẫu giám định ký hiệu “C4”. Các mẫu giám định có ký hiệu “C”; “C2”; “C4” được gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy, khối lượng ma túy

Tại kết luận giám đinh số: 214/KLMT ngày 15/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận:“Mẫu gửi giám đinh ký hiệu C là chất ma túy loại chất Methamphetamine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Mẫu gửi giám định C2, C4 đều là chất ma túy; loại chất heroine, tổng khối  lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam. Tổng khối lượng của chất ma túy thu giữ được là 0,09 gam loại chất Methamphetamine; 0,35 gam loại chất heroine.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu ở trên, bị cáo mua ma túy và cất giấu ma túy mục đích là để sử dụng cho bản thân vì bị cáo mắc nghiện ma túy.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 06/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Vân Hồ giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249,  điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình  sự  2015:  Xử  phạt  bị  cáo  Trần  Văn  C  từ  18  (mười  tám)  tháng  tù  đến đến 24 (hai mươi tư) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Trần Văn C.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trọng đựng 0,29 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 12/01/2018, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La lập hồi 15 giờ 45 phút ngày 12/01/2018, Bản kết luận giám định số 214/KLMT ngày 15/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến anh Vũ Văn A, sinh năm 1988, trú tại: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 12/01/2018, bị cáo Trần Văn C đã có hành vi tàng trữ 0,09 gam methamphetamine và 0,35 gam heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số  Điều  của  Bộ  luật  hình  sự  2015  thì  tổng  khối  lượng  của  các  chất  ma  túy methamphetamine và heroine là 0,09 gam + 0,35 gam =0,44 gam. Tổng khối lượng của hai chất Heroine và Methamphetamine dưới mức tối thiểu của điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, phải xử lý nghiêm khắc cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự,

Bị cáo Trần Văn C đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Trần Văn C còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản đáng giá, bản thân là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông điều khiển xe máy trở C đi mua ma túy, C không quen biết, không có tên tuổi và địa chỉ nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.

Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ: Theo lời khai của Trần Văn C mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo ra không có chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý người bán ma túy cho bị cáo Trần Văn C.

[4] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì đã được niêm phong bên trong đựng 0,29 gam heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu là những vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2018 (là ngày bị bắt tạm giam, giữ đối với bị cáo).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì  đã được niêm phong bên trong đựng 0,29 gam heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


84
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2018/HS-ST ngày 24/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:47/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vân Hồ - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về