Bản án 47/2017/HSST ngày 25/07/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 47/2017/HSST NGÀY 25/07/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 25 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2017/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2017/QĐXX-HSST ngày 12 tháng 7 năm 2017 đối với:

+ Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn Ch, xã D, huyện D, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 10/10; Bố: Nguyễn Văn H (Đã chết) và mẹ: Nguyễn Thị Th; Vợ: Bùi Thị G; Con: có 3 con, lớn 14 tuổi, nhỏ 4 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/01/2015, bị Công an huyện Duy Tiên xử phạt 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe người khác (đã chấp hành ngày 20/01/2015). Bị tạm giữ, tạm giam từ 22/3/2017 đến ngày 15/5/2017. Hiện được áp dụng quyết định cho bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại; có mặt.

* Người bị hại: Anh Đặng Tuấn A, sinh năm 1980; ĐKNKTT: Tổ 2, phường Q.Tr, thành phố Ph.L, tỉnh Hà Nam; Chỗ ở hiện nay: Tổ 6, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam. Có đơn xin vắng mặt;

*  Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị G, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn Ch, xã D, huyện D, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

*  Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị Bé O, sinh năm 1998; ĐKNKTT: Khối 9, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Ng. Chỗ ở: Thôn Ch, xã D, huyện D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt;

- Anh Vũ Văn H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Anh Trần Văn Ph, sinh năm 1994; Địa chỉ: Xóm 3, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Anh Lê Văn Th (tên khác Th), sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ dân phố Thượng Tổ 1, phường Th.Ch, thành phố Ph.L, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

- Anh Đỗ Văn Kh, sinh năm 1994; Địa chỉ: Xóm 7, xã Ng, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn Th, xã Ng, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/3/2017, anh Đặng Tuấn A cùng các anh Trần Văn Ph, Lê Văn Th, Đỗ Văn Kh, Nguyễn Văn T đến quán Karaoke Zidan của gia đình Nguyễn Văn H ở thôn Ch, xã D.M, huyện Duy Tiên để hát karaoke. Cả nhóm hát tại phòng Vip 3 và yêu cầu gọi cho một nhân viên vào phục vụ hát. Chị G (vợ H) gọi Nguyễn Thị Bé O là nhân viên của quán vào phòng Vip 3 để phục vụ rót bia, bấm bài hát cho nhóm của Tuấn A. Khi nhóm của anh Tuấn A hát đến khoảng 02 giờ cùng ngày thì giữa Tuấn A và chị O xảy ra mâu thuẫn cãi, chửi nhau, Tuấn A cầm chiếc micro đập vào má phải chị O một nhát. Thấy trong phòng cãi, chửi nhau nên H và chị G vào can ngăn, nhóm của anh Tuấn A không hát nữa. Khi nhóm của anh Tuấn A ra ngoài phòng khách đợi thanh toán tiền thì giữa H và anh Tuấn A lại xảy ra cãi, chửi nhau. Cho rằng nhóm của anh Tuấn A đến quán của mình quậy phá nên H đi xuống bếp lấy 02 con dao phay, mỗi con có chiều dài khoảng 32cm và 01 con dao bầu có chiều dài khoảng 28cm mang lên rồi để 01 con dao phay trên mặt bàn chỗ anh Kh ngồi, để 01 con dao phay và 01 con dao bầu trên mặt bàn uống nước ở giữa phòng khách trước mặt anh Tuấn A, anh Ph, anh Th và anh T rồi nói “chúng mày thích thì giết đi” và tiếp tục chửi nhau với anh Tuấn A. Sau đó, H ra góc cửa xếp (cửa chính ra vào quán) lấy 01 con dao phóng (đầu gắn dao bầu, chuôi bằng tuýp kim loại tổng chiều dài khoảng 01m) hai tay cầm dao phóng đứng đối diện với anh Tuấn A, cách 1,5m chém một nhát từ trên xuống dưới vào cánh tay trái của anh Tuấn A. Thấy vậy, chị G, anh Ph vào can ngăn và giằng con dao phóng từ tay H ra, H tiếp tục chạy đến lấy con dao phay để trên bàn uống nước giữa phòng trước đó cầm ở tay phải dùng sống dao chém 03 nhát vào phía bên trái người anh Tuấn A. Chị G, anh Kh vào can ngăn H, anh Th, anh T, anh Th kéo anh Tuấn A ra phía cửa ra vào thì H cầm vỏ chai bia Hà Nội ném về phía anh Tuấn A nhưng không trúng. Sau đó, H gọi điện báo cho Công an xã Duy Minh, huyện Duy Tiên. Anh Tuấn A  bị thương được đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam đến ngày 24/3/2017 thì ra viện.

Vật chứng thu giữ gồm: 02 con dao phay có chiều dài 32 cm, cán dao bằng gỗ màu nâu, lưỡi dao màu trắng sáng dài 19cm, bản rộng 09 cm; 01 con dao phay có tổng chiều dài 32 cm, cán dao bằng gỗ màu nâu, lưỡi dao màu trắng sáng dài 19cm, bản rộng 06 cm; 01 con dao bầu có tổng chiều dài 28 cm, cán dao bằng gỗ màu nâu đen, lưỡi dao màu đen dài 17cm, chỗ rộng nhất 4,5cm, mũi nhọn.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 27/TgT ngày 20/3/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam đối với anh Đặng Tuấn A: Các vết rách da cánh tay trái, cẳng tay trái, vết mổ cấp cứu và vết sạt da thành ngực trái xung quanh còn sưng nề. Tỷ lệ: 5%; Chấn thương cẳng tay trái làm gãy kín 1/3 dưới xương trụ trái đã được mổ kết hợp xương bằng nẹp vít, hạn chế xoay, gấp cẳng bàn tay trái. Tỷ lệ: 10%; Chấn thương cẳng tay phải hiện còn sưng nề, bầm tím, tỷ lệ: 0%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 15%.

Kết  luận giám định pháp  y về thương tích  bổ sung  số 50/TgT ngày 26/4/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam đối với anh Đặng Tuấn A: Vết thương phần mềm nhiều nơi sau điều trị không để lại sẹo; Chấn thương cẳng tay phải sau điều trị không còn dấu vết tổn thương; Chấn thương cẳng tay trái làm gãy kín 1/3 dưới xương trụ trái đã được mổ kết hợp xương. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15%.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Nguyễn Văn H đã cùng người thân thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho anh Đặng Tuấn A số tiền 60.000.000đ. Các bên đã giải quyết xong về trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 28/6/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn H từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 03 con dao và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận gì, lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Duy Tiên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 13/3/2017, tại quán Karaoke Zidan ở thôn Chuông, xã Duy Minh, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam do anh Đặng Tuấn A là khách đến quán hát đã cầm micro đập 01 nhát vào má chị Nguyễn Thị Bé O là nhân viên phục vụ quán hát nên Nguyễn Văn H vào can ngăn và xảy ra cãi vã với anh Tuấn A. Sau một hồi cãi nhau Nguyễn Văn H đã cầm 01 con dao phóng, đầu gắn dao bầu, chuôi bằng tuýp sắt kim loại chém một nhát vào cánh tay trái của anh Tuấn A. Được mọi người can ngăn, thu hung khí nhưng H tiếp tục dùng sống con dao phay khác chém 03 nhát vào phía bên trái người anh Tuấn A và lấy vỏ chai bia Hà Nội ném về phía anh Tuấn A nhưng không trúng. Hậu quả anh Đặng Tuấn A bị thương tích, tổn hại sức khỏe là 15%.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây tổn hại 15% sức khỏe người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính (chấp hành xong ngày 20/1/2015) nên tính đến ngày phạm tội bị cáo đã được xóa tiền sự và được coi là chưa có tiền sự từ 20/1/2016; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi mà mình đã thực hiện bằng hành động tích cực cùng gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại theo thỏa thuận cho người bị hại để khắc phục hậu quả, được người bị hại chấp thuận và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng tình các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên, HĐXX xét thấy, chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhưng bị cáo thiếu kiềm chế, lựa chọn cách ứng xử không phù hợp pháp luật, gây tổn hại sức khỏe người khác, hành vi đó của bị cáo phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình HĐXX thấy rằng, trong vụ án này có một phần lỗi của người bị hại do có hành vi bạo lực đối với chị Nguyễn Thị Bé O là người làm thuê cho bị cáo; sau khi thực hiện tội phạm bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải nên đã tích cực khắc phục hậu quả, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, vì vậy cần ấn định mức hình phạt đủ nghiêm khắc nhưng cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo. Xét đề nghị của vị đại diện VKS nhân dân tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nên chưa cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương,  tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình là phù hợp với điều 60 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận tiền bồi thường nay không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

Đối với chị Nguyễn Thị Bé O bị anh Tuấn A cầm micro đập vào má  bị xây xát nhẹ, tuy nhiên chị Bé O không yêu cầu nên cơ quan chức năng không xem xét là đúng qui định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Đối với 03 con dao là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm  b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/7/2017).

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự; điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 con dao đã cũ dài 32cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao có bản rộng 09cm, trên dao có chữ KIWIBRAND MADE IN THAILAND; 01 con dao đã cũ dài 32cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao có bản rộng 06cm, trên dao có chữ STAINLESS MADE IN THAILAND; 01 con dao đã cũ dài 28cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao có bản rộng 4,5cm.

(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Duy Tiên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Duy Tiên ngày 30/6/2017)

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


62
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về