Bản án 46/2019/HS-ST ngày 26/06/2019 về tội vi phạm quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 46/2019/HS-ST NGÀY 26/06/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH KHAI THÁC, BẢO VỆ RỪNG VÀ LÂM SẢN

Ngày 26/6/2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2019/TLST-HS ngày 17/5/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 51/2019/QĐXXST-HS ngày 12/6/2019, đối với bị cáo: Nguyễn T O, sinh năm 1980, tại tỉnh Lâm Đồng.

Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ K, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T N, sinh năm 1935 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1947; vợ: Trần Thị V H, sinh năm 1987; có 02 con: lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 14/8/2016, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 05 ngày tù, về tội: “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” và phải bồi thường cho Vườn Quốc gia Cát Tiên 4.331.000 đồng và ngày 17/01/2017, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù, về tội: “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” và phải bồi thường cho Vườn Quốc gia Cát Tiên 1.000.000 đồng; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/12/2013, Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm đồng xử phạt 10.000.000 đồng, về tội: “Đánh bạc”. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/6/2019 cho đến nay (có mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Vườn Quốc gia Cát Tiên.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm H L - Chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh V T - Chức vụ: Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Cát Tiên (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn V L, sinh năm 1972

Cư trú tại: Thôn Y, xã Đ K, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NHẬN THẤY

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn T O đã bị kết án về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” chưa được xóa án tích. Khoảng 14 giờ 25 ngày 08/02/2019, O cùng với Nguyễn Văn L, sinh năm 1972, cư trú tại Thôn 8, xã Đ K, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng vào Vườn Quốc gia Cát Tiên (rừng đặc dụng) vận chuyển 02 hộp gỗ Cẩm lai, khi đến tọa độ 0467181-1268939 thuộc tiểu khu 30 Vườn Quốc gia Cát Tiên thuộc địa giới hành chính xã Đắc Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Kiểm lâm trạm Đạ Cộ tuần tra phát hiện bắt giữ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn T O, còn Nguyễn Văn L chạy thoát.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 hộp gỗ kích thước 0,72m x 0,40m x 0,10m có khối lượng 0,029m3; 01 hộp gỗ kích thước 0,62m x 0,42m x 0,10m có khối lượng 0,026m3; 03 sợi dây dù bẹ (02 dây dài 1,5m; 01 dây dài 3,6m); 04 sợi dây dai xanh (mỗi dây dài 2,76m, rộng 03cm); 05 chai nhựa không (04 chai loại 0,5 lít và 01 chai loại 1,5 lít); 01 can nhựa loại 02 lít; 01 con dao dài 41cm (cán gỗ dài 08cm, lưỡi dài 37cm, bản rộng 2,5cm); 01 túi vải; 01 bao tải không màu đỏ; 03 túi ni lông (kích thước 1.17 m x 60cm) và 01 điện thoại di động NOKIA 1280 màu đen.

Tiến hành kiểm tra, lực lượng Kiểm lâm xác định được vị trí cây gỗ đã bị cưa đổ xuống từ lâu (khoảng 10 đến 15 năm) tại tọa độ 0465811-1269516. Hiện trạng cây gỗ bị cưa đổ có 01 thân, phần giữa cây gỗ được tác động cưa cắt 01 đoạn dài 4.4 m và được chia thành 05 lóng có khối lượng 0,495m3. Tại hiện trường còn 02 lóng có khối lượng 0,141m3; lấy đi khỏi hiện trường 03 lóng có khối lượng 0,354m3, trong đó 02 lóng có khối lượng 0,197m3 thì các đối tượng đẽo thành 02 hộp có khối lượng 0,055m3 để vận chuyển ra khỏi rừng thì bị lực lượng Kiểm lâm bắt quả tang như đã nêu ở trên.

Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên tiến hành lấy mẫu gỗ, niêm phong, bảo quản và Quyết định trưng cầu giám định mẫu vật theo quy định của pháp luật. Tại Bản kết luận giám định ngày 18/02/2019 của Chi cục Kiểm lâm – sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Nai xác định mẫu vật do Hat Kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên gửi giám định là mẫu gỗ Cẩm lai (Cẩm lai bà rịa), tên khoa học là Dalbergia oliveri (D. Bariensis, D. mammosa) thuộc nhóm IIA, theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm.

Theo Kết luật định giá tài sản số 20/KL.HĐĐGTS ngày 15/3/2019 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Tân Phú đã xác định đoạn thân cây gỗ Cẩm lai bị tác động cưa cắt dài 4.4 m và được chia cắt thành 05 lóng, khối lượng 0,495m3 có tổng trị giá là 7.796.250 đồng. Đối với 02 lóng gỗ Cẩm lai khối lượng 0,197m3 bị các đối tượng đẽo thành 02 hộp gỗ có trị giá 3.102.750 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSTP-ĐN ngày 07/5/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn T O, về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo O. Trên cơ sở phân tích dấu hiệu phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

- Về tội danh: Bị cáo Nguyễn T O phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

- Về mức hình phạt: Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn T O, mức án từ: 06 (sáu) tháng tù đến 08 ( T) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho Vườn Quốc gia Cát Tiên theo quy định của pháp luật.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 03 sợi dây dù bẹ (02 dây dài 1,5m; 01 dây dài 3,6m); 04 sợi dây dai xanh (mỗi dây dài 2,76m, rộng 03cm); 05 chai nhựa không (04 chai loại 0,5 lít và 01 chai loại 1,5 lít); 01 can nhựa loại 02 lít; 01 con dao dài 41cm (cán gỗ dài 08cm, lưỡi dài 37cm, bản rộng 2,5cm); 01 túi vải; 01 bao tải không màu đỏ; 03 túi ni lông (kích thước 1.17 m x 60cm);

+ Đề nghị tịch thu sung công: 01 điện thoại di động NOKIA 1280 màu đen;

+ Giao cho Vườn Quốc gia Cát Tiên 02 lóng gỗ Cẩm lai có tổng khối lượng 0,055m3. Hiện Vườn Quốc gia Cát Tiên đang bảo quản.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nội dung lời khai của những người tham gia tố tụng trong hồ sơ vụ án:

- Lời khai của bị cáo Nguyễn T O trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận nội dung của Bản cáo trạng là đúng sự thật; bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Lời khai của Phùng Đức T: T và O có quen biết với nhau và cùng cư trú tại Thôn X, xã Đ K, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng. Việc O khai: Ngày 08/02/2019, T đến chúc Tết gia đình nhà O và nói mình khai khác gỗ, cất giấu trong rừng Cát Tiên và chỉ đường cho O đến địa điểm chỗ cất giấu 02 hộp gỗ để vận chuyển gỗ đem về bán lấy tiền chia nhau là hoàn toàn không đúng sự thật.

- Lời khai của Lộc Văn Th: Th, T và O có quen biết với nhau nhưng khoảng 7-8 tháng nay Th, T và O không có gặp nhau. Kể từ năm 2015 sau khi bị Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên xử phạt vi phạm hành chính thì Th không còn vào Vườn Quốc gia Cát Tiên để khai thác trái phép gỗ nữa.

- Lời khai của đại diện theo ủy quyền của Vườn quốc gia Cát Tiên: Đề nghị xử lý nghiêm hành vi vi phạm và buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại 0,495m3 gỗ Cẩm lai trị giá 7.796.250 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa, bị cáo và đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về trách nhiệm hình sự:

[2.1]. Xét về hành vi phạm tội:

Nguyễn T O đã bị kết án về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” chưa được xóa án tích.

Khoảng 14 giờ 25 ngày 08/02/2019, O cùng với Nguyễn Văn L vào Vườn quốc gia Cát Tiên vận chuyển 02 hộp gỗ Cẩm lai bà rịa, có khối lượng 0,055m3 thuộc nhóm IIA theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm. Khi vận chuyển đến tọa độ 0467181-1268939 thuộc tiểu khu 30 Vườn quốc gia Cát Tiên (rừng đặc dụng) thuộc địa giới hành chính xã Đắc Lua, huyện Tân Phú thì bị lực lượng Kiểm lâm trạm Đạ Cộ tuần tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn T O.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2.2]. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; nó xâm phạm chế độ quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nươc , trực tiếp xâm phạm đến hệ sinh thái rừng được Nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Hậu quả của hành vi mà bị cáo đã thực hiện là không thể lường trước được: Gây mất cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học rừng; gây xói mòn đất, gây lũ lụt, khô hạn.... Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thiết, cần tuyên mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân tốt và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

[2.3]. Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự;

 - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ, cha bị cáo O có công cách mạng, được tặng thưởng huy chương kháng chiến là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cân nhắc để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Từ nội dung đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc, quyết định mức án phù hợp đối với từng bị cáo, thể hiện sự nghiêm minh, khoan hồng của chính sách pháp luật.

Tòa án mở phiên tòa xét xử lưu động công khai vụ án để xử lý hành vi phạm tội của bị cáo và để tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của công dân, góp phần phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường Vườn Quốc gia Cát Tiên số tiền 7.796.250 đồng nhưng chưa bồi thường. Vì vậy, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt cho Vườn Quốc gia Cát Tiên số tiền trên là đúng pháp luật.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 03 sợi dây dù bẹ (02 dây dài 1,5m; 01 dây dài 3,6m); 04 sợi dây dai xanh (mỗi dây dài 2,76m, rộng 03cm); 05 chai nhựa không (04 chai loại 0,5 lít và 01 chai loại 1,5 lít); 01 can nhựa loại 02 lít; 01 con dao dài 41cm (cán gỗ dài 08 cm, lưỡi dài 37cm, bản rộng 2,5cm); 01 túi vải; 01 bao tải không màu đỏ; 03 túi ni lông (kích thước 1.17 m x 60cm) là công cụ thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng.

- Đối với: 01 điện thoại di động NOKIA 1280 màu đen là phương tiện có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quy nhà nước.

- Đối với: 02 hộp gỗ Cẩm lai có tổng khối lượng 0,055m3 hiện Vườn Quốc gia Cát Tiên thu giữ; đây là tài sản của Vườn Quốc gia Cát Tiên nên giao lại cho Vườn quốc gia Cát Tiên tiếp tục quản lý, bảo quản theo đúng quy định.

[5] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn L do không lấy được lời khai nhưng qua công tác tra cứu thông tin người có hành vi phạm tội. Kết quả cho thấy L không có tiền án, tiền sự nên hành vi của L chưa đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên xử lý hành vi vi phạm của L theo quy định của pháp luật.

Đối với Phùng Đức T và Lộc Văn Th: Quá trình điều tra đã xác định, ngoài lời khai của O thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh T và Thành có liên quan đến hành vi phạm tội nên không có cơ sở để xử lý. Do đó, xác định T và Thành không liên quan đến vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm m khoản 1 Điều 232; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn T O phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

Xử phạt: Nguyễn T O 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự:

Bị cáo Nguyễn T O phải bồi thường cho Vườn Quốc gia Cát Tiên số tiền 7.796.250đ (bảy triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chưa thi hành thì còn phải chịu khoản lãi suất tương ứng với khoản tiền và thời gian chưa thi hành án xong theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sựkhoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 03 sợi dây dù bẹ (02 dây dài 1,5m; 01 dây dài 3,6m); 04 sợi dây dai xanh (mỗi dây dài 2,76m, rộng 03cm); 05 chai nhựa không (04 chai loại 0,5 lít và 01 chai loại 1,5 lít); 01 can nhựa loại 02 lít; 01 con dao dài 41cm (cán gỗ dài 08cm, lưỡi dài 37cm, bản rộng 2,5cm); 01 túi vải; 01 bao tải không màu đỏ; 03 túi ni lông (kích thước 1.17 m x 60cm).

- Tịch thu sung công quy nhà nước: 01 điện thoại di động NOKIA 1280 màu đen.

 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/05/2019 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huyện Tân Phú và Chi cục THADS huyện Tân Phú).

- Giao cho Vườn quốc gia Cát Tiên tiếp tục quản lý 02 hộp gỗ Cẩm lai (Vườn Quốc gia Cát Tiên đang thu giữ) có tổng khối lượng 0,055m3 theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điêu 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200,000đ (hai trăm nghìn đồng) và 390,000đ (ba trăm chín mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Nguyễn T O, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


62
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về