Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 29/03/2019 về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/03/2019 VỀ TRANH CHẤP KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG

Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng (ly hôn) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1150/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Tian Song (Điền Tùng), sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 32 thôn Bàng Gia Danh, thị trấn Xuất Ngạn, thành phố Nhâm Khâu, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc; tạm trú tại: Số 225, phố Chợ Lũng, phường Đằng Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Đồng Thị G, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn 4, xã TS, huyệnTN, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Vũ Huế Gi, sinh năm 1972; nơi cư trú: Số 2/58/63PC, GV, quận NQ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 3 năm 2019 và tại phiên tòa nguyên đơn là anh Tian Song trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Tian Song (Điền Tùng) và chị Đồng Thị G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Cục Dân chính nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào ngày 18 tháng 9 năm 2018, nhưng anh chị không thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Sau khi kết hôn anh Tian Song và chị Đồng Thị G chung sống với nhau tại Trung Quốc, cũng thời gian này anh chị phát sinh mâu thuẫn nguyên do không hòa hợp về tính cách, bất đồng về ngôn ngữ và phong tục tập quán. Nay anh Tian Song thấy tình cảm vợ chồng không còn, mỗi người đều có cuộc sống riêng ổn định, nên anh có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị G.

- Về con chung và tài sản chung: Anh Tian Song và chị Đồng Thị G không có con chung và không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai, chị Đồng Thị G trình bày:

Chị thống nhất với lời trình bày của anh Tian Song về việc kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Chị xác nhận do anh chị không hiểu biết pháp luật nên không ghi chú việc đã kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền cửa nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Và đến thời điểm hiện tại chị không tiến hành ghi chú việc đã kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nữa. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, chị đồng ý và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tian Song theo quy định của pháp luật. Do chị bận công việc nên chị đề nghị vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị.

Về con chung và tài sản chung: Chị và anh Tian Song không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị Đồng Thị G đề nghị vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

Tại phiên tòa hôm nay anh Tian Song có mặt, chị Đồng Thị G vắng mặt, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của chị Đồng Thị G.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Anh Tian Song (Điền Tùng) và chị ĐồngThị G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Cục Dân chính nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào ngày 18 tháng 9 năm 2018, nhưng anh chị không thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Do mâu thuẫn gia đình nên anh chị không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, nay anh Tian Song có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị Đồng Thị G. Như vậy cuộc sống chung không còn tồn tại cần áp dụng Điều 14, Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị ly hôn của anh Tian Song. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Tian Song và chị Đồng Thị G.

Về con chung và tài sản chung: Anh Tian Song và chị Đồng Thị G không có con chung và không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Về án phí: Anh Tian Song phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiêntòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

 [1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Tian Song là người có quốc tịch Trung Quốc và hiện đang cư trú tại Trung Quốc có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn chị Đồng Thị G hiện đang cư trú tại thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 7 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

 [2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn là chị Đồng Thị G vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

 [3] Về hôn nhân: Anh Tian Song (Điền Tùng) và chị Đồng Thị G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Cục Dân chính nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào ngày 18 tháng 9 năm 2018, nhưng anh chị không thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và đến thời điểm hiện nay anh chị vẫn chưa thực hiện việc ghi chú kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam thì đây là không được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do anh Tian Song và chị Đồng Thị G bất đồng về ngôn ngữ và phong tục tập quán nên tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đã sống ly thân, cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, việc anh Tian Song và chị Đồng Thị G chung sống với nhau như vợ chồng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên khi anh Tian Song có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn của anh chị theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 14, Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị ly hôn của anh Tian Song tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Tian Song và chị Đồng Thị G.

 [4] Về con chung: Anh Tian Song và chị Đồng Thị G không có con chung, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

 [5] Về tài sản chung: Anh Tian Song và chị Đồng Thị G không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm:

 [6] Anh Tian Song là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo của các đương sự:

 [7] Anh Tian Song và chị Đồng Thị G được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 14, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân vàGia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Tian Song (Điền Tùng) và chị Đồng Thị G.

2. Về con chung: Anh Tian Song (Điền Tùng) và chị Đồng Thị G không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung: Anh Tian Song (Điền Tùng) và chị Đồng Thị G không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Tian Song (Điền Tùng) phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001705 ngày 14 tháng 3 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự: Anh Tian Song (Điền Tùng) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Đồng Thị G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 29/03/2019 về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về