Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 27/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/11/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI DƯỠNG CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 27 tháng 11 năm 2019. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43A/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21/11/2019 giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị A.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Nơi ở: Thôn L 3, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.

2- Bị đơn: Anh Vũ Thanh L.

Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22/8/2019 và các bản tự khai của chị Đỗ Thị A cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án thì chị Đỗ Thị A và anh Vũ Thanh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 17/10/2014. Sau ngày kết hôn, vợ chồng về chung sống, hoà thuận hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm trong làm ăn và tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dậy con cái, anh Vũ Thanh L ghen tuông vô cớ dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên sẩy ra bất hòa, cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Khi mâu thuẫn sảy ra vợ chồng đã được gia đình, anh em khuyên giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả, thực tế vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 8 năm 2019 cho đến nay, từ đó chị Đỗ Thị A và cháu nhỏ đã về gia đình ông bà ngoại ở xã Cam Cọn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai sinh sống cho đến nay. Trong thời gian này vợ chồng không quan tâm thăm hỏi gì nhau và cũng không quan hệ tình cảm với nhau nữa. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Đỗ Thị A có yêu cầu và nguyện vọng xin được ly hôn với anh Vũ Thanh L.

Về con chung: Chị Đỗ Thị A xác nhận chị và anh Vũ Thanh L chung sống với nhau đến nay đã có 02 con chung. Cháu lớn: Vũ Ngọc A - Sinh ngày: 03/01/2016; Cháu thứ hai: Vũ Thị Thanh N - Sinh ngày: 06/4/2018. Hiện nay các cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường và cháu Vũ Ngọc A đang ở cùng với anh Vũ Thanh L tại gia đình ông bà nội tại thôn Khe Mụ xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai, còn cháu Vũ Thị Thanh N đang ở cùng chị Đỗ Thị A tại gia đình ông bà ngoại tại Thôn L 3, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Đỗ Thị A có yêu cầu và nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu Vũ Thị Thanh N - Sinh ngày 06/4/2018 và để anh Vũ Thanh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vũ Ngọc A - Sinh ngày: 03/01/2016 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị A xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Vũ Thanh L chưa tạo dựng được tài sản gì chung, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Đỗ Thị A xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Vũ Thanh L không vay mượn gì của ai và cũng không cho ai vay mượn gì. Nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Vũ Thanh L trong quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Vũ Thanh L không những không trả lời Tòa án bằng văn bản về những yêu cầu và nguyện vọng của mình đối với yêu cầu của chị Đỗ Thị A mà thậm chí anh Vũ Thanh L cố tình trốn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do vậy vụ án này Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Trình bày những quan điểm về thủ tục tố tụng tại phiên tòa cũng như trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật cố tình trốn tránh gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành các biện pháp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị A ly hôn với anh Vũ Thanh L.

Về con chung: Xử Giao cháu Vũ Thị Thanh N - Sinh ngày: 06/4/2018 cho chị Đỗ Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Vũ Ngọc A - Sinh ngày: 03/01/2016 cho anh Vũ Thanh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đỗ Thị A và anh Vũ Thanh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 17/10/2014. Đây là một hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau ngày kết hôn vợ chồng về chung sống hoà thuận hạnh phúc đã có 02 con chung với nhau. Đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến việc chị Đỗ Thị A làm đơn xin ly hôn anh Vũ Thanh L là do quan điểm, cách sống của vợ chồng không thống nhất với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Mặt khác chị chị Đỗ Thị A và anh Vũ Thanh L đã tự sống ly thân nhau từ tháng 8/2019 cho đến nay. Trong thời gian này vợ chồng không quan tâm, thăm hỏi gì đến nhau và cũng không có trách nhiệm gì với nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn ngày 22/8/2019 chị Đỗ Thị A làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Vũ Thanh L.

Đối với anh Vũ Thanh L trong quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Vũ Thanh L không những không trả lời Tòa án bằng văn bản về những yêu cầu và nguyện vọng của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị A mà thậm chí anh Vũ Thanh L cố tình trốn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do vậy vụ án này Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay chị Đỗ Thị A vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn đối với anh Vũ Thanh L với lý do tình cảm vợ chồng không còn mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được.

Xét yêu cầu của chị Đỗ Thị A và đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các qui định tại Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Bởi lẽ mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị A là có căn cứ đúng pháp luật.

[2].Về con chung: Tại phiên tòa hôm nay và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chị Đỗ Thị A xác nhận: Chị và anh Vũ Thanh L chung sống với nhau đến nay đã có 02 con chung. Cháu lớn: Vũ Ngọc A; Sinh ngày 03/01/2016; Cháu thứ hai: Vũ Thị Thanh N; Sinh ngày: 06/4/2018, hiện các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và cháu nhỏ đang ở với chị còn cháu lớn đang ở với anh Vũ Thanh L. Khi ly hôn chị Đỗ Thị A có yêu cầu và nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nhỏ Vũ Thị Thanh N và để anh Vũ Thanh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu lớn Vũ Ngọc A cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Xét yêu cầu của chị Đỗ Thị A và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc nuôi dưỡng con chung để chị Đỗ Thị A được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vũ Thị Thanh N và để anh Vũ Thanh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vũ Ngọc A là có căn cứ. Bởi lẽ kể từ khi anh chị sống ly thân từ tháng 8/2019 thì các cháu vẫn được anh, chị chăm sóc nuôi dưỡng các cháu được ăn học và phát triển bình thường. Mặt khác bản thân anh, chị đều có đủ điều kiện khả năng để chăm sóc các con, đảm bảo sự ổn định cho các cháu về tâm lý cũng như trong sinh hoạt và quyền lợi về mọi mặt của các cháu. Nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị A về việc nuôi dưỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

[3]Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị A xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Vũ Thanh L chưa tạo dựng được tài sản gì chung, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về công nợ chung: Chị Đỗ Thị A xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Vũ Thanh L không vay mượn gì của ai và cũng không cho ai vay mượn gì. Nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị A ly hôn với anh Vũ Thanh L.

2.Về con chung: Xử giao cháu Vũ Thị Thanh N - Sinh ngày: 06/4/2018 cho chị Đỗ Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục và giao cháu Vũ Ngọc A - Sinh ngày: 03/01/2016 cho anh Vũ Thanh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Sau khi ly hôn, chị Đỗ Thị A và anh Vũ Thanh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Đỗ Thị A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0000149 ngày 27/8/2019 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.

Xác nhận chị Đỗ Thị A đã nộp đủ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


53
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 27/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Thắng - Lào Cai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về