Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/11/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 26/11/2019, tại Hội trường, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2019/TLS-HNGĐ ngày 25/6/2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/10/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08/11/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Võ Văn L, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 24/6/2019, được bổ sung tại bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn anh Võ Văn L trình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Hoàng Thị T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 28/5/2007 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung với bố mẹ anh L tại thôn T, xã C, huyện L. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài tháng đầu thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cải vả nhau mà không ai nhường nhịn ai; vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2007 mà không ai quan tâm đến ai. Anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị T.

- Về con chung: Không có. - Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn Hoàng Thị T: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập các bên đương sự, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên toà đến các đương sự hợp lệ nhưng chị Hoàng Thị T đều vắng mặt, do đó vụ án không tiến hành hoà giải được.

Theo xác nhận của Ban Công an xã H, huyện L ngày 24/6/2019: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1987 có hộ khẩu thường trú tại xã C, huyện L; hiện tại chị Hoàng Thị T đang sinh sống tại địa phương thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập các bên đương sự, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ nhưng bị đơn chị Hoàng Thị T đều vắng mặt, do đó vụ án không thể tiến hành hoà giải được; Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên toà đến chị T hợp lệ nhưng chị T vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất ngày 08/11/2019 và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên toà. Tại phiên toà lần thứ hai, bị đơn chị Hoàng Thị T vẫn vắng mặt mặc dù Toà án đã tống đạt quyết định hoãn phiên toà hợp lệ. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Hoàng Thị T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Văn L và chị Hoàng Thị T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, nên đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hạnh phúc bên nhau. Lẽ ra anh, chị phải biết thương yêu, quý trọng chăm sóc lẫn nhau nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, hai bên thiếu sự thông cảm, chia sẽ với nhau trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng sứt mẻ tình cảm, sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Toà án đã triệu tập, tống đạt thông báo đến chị T hợp lệ nhưng chị T vẫn không đến Toà án giải quyết chứng tỏ chị không còn quan tâm đến đời sống chung của vợ chồng, không muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình. Xét mục đích hôn nhân của anh L và chị T không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng sống ly thân đã lâu mà không ai quan tâm đến ai, Hội đồng xét xử thống nhất cho anh L được ly hôn chị T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Anh L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh L khai không có nợ chung, không có tài sản chung, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Văn L phải chịu theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Võ Văn L được ly hôn chị Hoàng Thi T.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Võ Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thuỷ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0005785 ngày 25 tháng 8 năm 2019. Anh L đã nộp đủ án phí.

3/ Về quyền kháng cáo: Anh Võ Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/11/2019); chị Hoàng Thị T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở Uỷ ban nhân dân nơi cư trú để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lệ Thủy - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về