Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 11/10/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 11/10/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON KHI LY HÔN

Trong ngày 11/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 150/2019/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 6 năm 2019, về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06/9/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: ấp S, xã Vĩnh T, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Anh Kim T, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã Lạc H, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/6/2019 cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị R trình bày: Vào năm 2008 chị R và anh T có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh T, thị xã Vĩnh C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 53, quyển số 01, ngày 08/12/2008. Sau cưới chị R về làm dâu bên nhà chồng chung sống rất hạnh phúc, đến đầu năm 2018 thì cuộc sống không còn hạnh phúc nữa do tính tình vợ chồng không còn hợp nhau, nên thường hay cải vã với nhau và anh T không chung thủy với vợ con cho nên đến cuối tháng 5/2019 thì chị R bỏ anh T về sống tại số nhà 104, ấp S, xã Vĩnh T, thị xã Vĩnh C và hai người đã ly thân từ thời gian đó cho tới nay. Trong thời gian chung sống với nhau chị R và anh T có 02 người con chung tên Kim Châu P, sinh ngày 28/9/2009 (Nữ); Kim Đại Ph, sinh ngày 23/12/2012 (Nam) hiện các cháu đang sống cùng chị R. Về tài sản chung tự thỏa thuận với nhau. Về nợ chung không có.

Nay chị R nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân tan vỡ mục đích hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn với anh T. Về con chung chị R yêu cầu được nuôi con chung Kim Châu P, sinh ngày 28/9/2009 (Nữ); Kim Đại Ph, sinh ngày 23/12/2012 (Nam) đến tuổi trường thành, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa giải quyết. Về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Thình, nhưng anh Thình không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị R, đồng thời anh T cũng không đến tham gia phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị R được ly hôn với anh T, giao cho chị R nuôi dưỡng cháu Kim Châu P, Kim Đại Ph, ghi nhận sự tự nguyện của chị R không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung các đương sự tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra xem xét, về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho anh T, nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh Thình.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị R, nhận thấy chị R và anh T tự nguyện chung sống với nhau năm 2008, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh T, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 53, quyển số 01, ngày 08/12/2008. Quan hệ hôn nhân của chị R và anh T không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống, đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tính vợ chồng không còn hòa hợp với nhau và anh T có biểu hiện không chung thủy với vợ con. Chị R nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên có nguyện vọng ly hôn. Chị R và anh T đã không còn chung sống với nhau từ cuối tháng 5 năm 2019 đến nay. Hội đồng xét xử đã phân tích động viên chị R suy nghĩ lại, hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh T, nhưng chị R vẫn cương quyết ly hôn, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị R được ly hôn với anh T.

[3] Về con chung: Thời gian chung sống với nhau chị R và anh T có 02 người con chung tên Kim Châu P, sinh ngày 28/9/2009 (Nữ); Kim Đại Ph, sinh ngày 23/12/2012 (Nam) hiện đang chung sống với chị R. Chị R yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung và cũng theo nguyện vọng của cháu Kim Châu P, nếu cha mẹ không còn sống chung với nhau thì cháu có nguyện vọng sống với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống của cháu P, cháu Phong không bị xáo trộn, để các cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị R. Tại phiên Tòa, chị R không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, chị R hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên việc chị R không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Chị R trình bày là để tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị R trình bày nợ chung không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí sơ thẩm: Chị R phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Riêng.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị R được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Giao con chung Kim Châu P, sinh ngày 28/9/2009 (Nữ); Kim Đại Ph, sinh ngày 23/12/2012 (Nam) cho chị R trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu P, cháu Ph đủ 18 tuổi.

Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Anh T không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Kim Châu P, Kim Đại Ph của chị R thì chị R có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

- Về tài sản chung: Chị R trình bày để tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Chị R trình bày nợ chung không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Chị R phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị R đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai số 0007973, ngày 14/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị R đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

Anh T không phải chịu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 11/10/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Vĩnh Châu - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về