Bản án 46/2016/KDTM-PT ngày 18/12/2016 về hợp đồng hợp tác liên doanh

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

   BẢN ÁN 46/2016/KDTM-PT NGÀY 17/12/2016 VỀ HỢP ĐỒNG HỢP TÁC LIÊN DOANH

Ngày 17, 18 tháng 12 năm 2015, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 42/2015/KDTM-TLPT ngày 17 tháng 11 năm 2014,  theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1297/2015/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2015, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hồ Hữu Việt, sinh năm 1955; hộ khẩu thường trú: P206 C5 tập thể Giảng Võ, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội.

Hiện trú tại: số 22 phố Đốc Ngữ, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, Hà Nội; ông Viện có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trần Mạnh Dũng - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Công ty cổ phần Du lịch Thương mại Cổ Loa; địa chỉ: Tổ 7 thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn Tý - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà...........................

Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan:

- Ông Nguyễn Quang Bình, sinh năm 1951; địa chỉ: số 2 ngách 82/19 đường Phạm Ngọc Thạch, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội, có mặt.

- Công ty cổ phần Kiến trúc và Đầu tư xây dựng AIC; địa chỉ theo đăng ký kinh doanh: Nhà số 4 ngõ 26 đường Nguyên Hồng, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội (ông Nguyễn Quang Bình đại diện theo pháp luật); có mặt.

- Công ty cổ phần Du lịch Hoàng Giang; địa chỉ theo đăng ký kinh doanh: Tổ 7 thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội.                  

- Ông Nguyễn Đăng Dưỡng; nguyên giám đốc Công ty cổ phần Du lịch Thương mại Cổ Loa; địa chỉ: Xóm Mít, Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội; vắng mặt.

- Bà Phạm Kim Ngân, sinh năm 1968; địa chỉ: 206 nhà C5, tập thể Giảng Võ, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Tân Bình, sinh năm 1956; địa chỉ: 100A phố Đông Các, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội; vắng mặt.

- Công ty CP Đầu tư và phát triển du lịch Đông Anh (DAC)

Trụ sở theo đăng ký kinh doanh: Cầu Đôi, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội do ông Hồ Hữu Việt đại diện.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện của Nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ông Hồ Hữu Việt trình bày:

Năm 1997, ông cùng ông Nguyễn Quang Bình, Công ty Du lịch thương mại Cổ Loa và một số cổ đông tham gia đầu tư vào Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển Du lịch Đông Anh (gọi tắt DAC) do ông Hồ Hữu Việt làm Chủ tịch Hội đồng quản trị. Quá trình hoạt động, DAC được Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh phê duyệt cho lắp đặt xe hỏa địa hình tại Công viên Cầu Đôi với tư cách là chủ đầu tư. Ngày 23/4/1999, DAC được Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh cấp phép đầu tư cho xây dựng khu vui chơi nước tại công viên Cầu Đôi với diện tích khoảng 1000m2 trong quần thể công viên Cầu Đôi. Ngày 20/5/2004, Công ty Du lịch thương mại Cổ Loa có tờ trình số 09/TT-DAĐT gửi Sở Du lịch Hà Nội về việc xin chủ trương cho phép lập Dự án đầu tư giai đoạn 2 của Dự án xây mới và nâng cấp Khách sạn Thủy Tạ nội dung dự án:

Tên dự án: Xây dựng khu biệt thự KD du lịch (BTKD-DL).

- Quy mô: 9.300m2 (thuộc quyền quản lý của Công ty DLTM Cổ Loa từ năm 1989 theo Quyết định số 92/QĐUB ngày 20/10/1989 của Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh, nhưng từ năm 1998 và 1999, Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh đã cho phép DAC đầu tư xây dựng xe hỏa địa hình và khu vui chơi nước).

- Tổng mức đầu tư dự kiến: 23.000.000.000 đồng.

- Nguồn vốn: Huy động từ các thành phần kinh tế.

- Chủ quản đầu tư: Sở Du lịch Hà Nội.

- Chủ đầu tư: Công ty DLTM Cổ Loa.

- Địa điểm: Khu Cầu Đôi, khối 1, thị trấn Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Mục tiêu: Xây dựng hoàn chỉnh một khu biệt thự kinh doanh du lịch phối hợp với khách sạn Thủy Tạ (giai đoạn 1) phục vụ hoạt động du lịch.

- Hình thức quản lý: Công ty DLTM Cổ Loa là chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án.

- Thẩm quyền phê duyệt dự án: Theo nghị định 07/2003/NĐ-CP.

- Thời gian thực hiện: Chuẩn bị đầu tư 06/2004 - 10/2004; Thực hiện đầu tư 11/2004 - 12/2004; Khởi công quý I năm 2005.

- Phương thức thực hiện dự án: Công ty DLTM Cổ Loa đầu tư xây dựng toàn bộ dự án, chuẩn bị đầu tư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, xây dựng toàn bộ công trình kiến trúc trong dự án, gọi vốn đầu tư theo phương thức: Bên góp vốn có thể góp vốn đầu tư vào 1 hay nhiều biệt thự; Sau khi dự án hoàn thành, bên góp vốn được giao sở hữu số biệt thự mà bên góp vốn đã góp vốn đầu tư. Thời gian sở hữu khai thác kinh doanh để thu hồi vốn đầu tư của bên góp vốn là thời gian được nhà nước cho thuê đất. Việc thanh lý hợp đồng sẽ được quy định cụ thể trong hợp đồng góp vốn đầu tư.

Ngày 27/5/2004, Sở Du lịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã đồng ý chủ trương cho phép triển khai lập dự án đầu tư theo tờ trình số 09/TT-DADT của Công ty DLTM Cổ Loa (Văn bản số 431/SDL-KHTH). Để có đất không kiện cáo phục vụ cho việc lập và phê duyệt dự án, trên cơ sở thỏa thuận đã ký giữa Công ty DLTM Cổ Loa với ông và ông Nguyễn Quang Bình, ngày 02/6/2004, DAC có công văn số 08/CV-DAC gửi Công ty DLTM Cổ Loa đồng ý giao toàn bộ diện tích mặt bằng các khu vực đầu tư cho Công ty DLTM Cổ Loa để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu biệt thự kinh doanh du lịch - Tourist Villa.

Dự án Khu biệt thự kinh doanh du lịch:

Hợp đồng góp vốn đầu tư xây dựng khu biệt thự kinh doanh du lịch: Ngày 30/6/2004, Công ty DLTM Cổ Loa và ông ký kết Hợp đồng số 02/HĐGV về việc góp vốn đầu tư xây dựng Khu biệt thự kinh doanh du lịch (giai đoạn 2 của Dự án đầu tư xây mới nâng cấp khách sạn Thủy Tạ) tại Cầu Đôi Đông Anh với nội dung:

- Chủ đầu tư là Công ty DLTM Cổ Loa.

- Ông Hồ Hữu Việt là đại diện bên góp vốn xây dựng 04 biệt thự kinh doanh du lịch.

- Mức góp vốn: Góp vốn lập dự án đầu tư và hạ tầng kỹ thuật 3.500.000 đồng/m2; góp vốn xây thô biệt thự 1.200.000 đồng/m2.

- Trách nhiệm và quyền hạn của chủ đầu tư: Nộp tiền thuê đất của toàn bộ dự án, sử dụng vốn bên góp để chi phí cho công tác lập dự án đầu tư, công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, nộp tiền thuê đất, xây dựng biệt thự kinh doanh du lịch (phần thô) và khu dịch vụ chung của dự án. Sau khi bên góp vốn đủ 100% vốn góp, Chủ đầu tư ký quyết định giao BTKD-DL cho từng bên góp vốn để hoàn thiện theo thiết kế.

- Trách nhiệm bên góp vốn: Góp vốn đầy đủ theo các giai đoạn đầu tư; Xây dựng hoàn thiện BTKD-DL. Quản lý khai thác sử dụng BTKD-DL trong thời hạn thời gian được xác định trong hợp đồng thuê đất và giao đất của cấp có thẩm quyền.

Ngày 10/7/2004 ông Nguyễn Đăng Dưỡng (là Giám đốc Công ty Cổ Loa - Đại diện chủ đầu tư) cùng với ông và ông Nguyễn Quang Bình ký thỏa thuận hợp tác đầu tư xây dựng khu biệt thự kinh doanh Du lịch (giai đoạn 2 của dự án đầu tư xây mới nâng cấp khách sạn Thủy Tạ) tại Cầu Đôi Đông Anh với nội dung:

- Ông Dưỡng thực hiện trách nhiệm chủ đầu tư dự án tham gia gọi vốn đầu tư xây dựng 03 biệt thự theo mức góp vốn quy định và được 3 người đồng ý.

- Ông Việt góp vốn đợt 1 là 50.000.000 đồng, góp vốn giai đoạn chuẩn bị đầu tư theo mức góp hạ tầng 3.500.000 đồng/m2. Góp vốn đầu tư xây dựng 03 biệt thự theo mức góp vốn quy định và được cả 3 đồng ý.

- Ông Bình góp vốn đợt 1 là 50.000.000 đồng; Thực hiện các công tác tư vấn phục vụ dự án; Góp vốn đầu tư xây dựng 3 biệt thự theo mức góp vốn quy định và được cả 3 đồng ý.

Quá trình thực hiện hợp đồng:

Ngày 12/7/2004, ông Việt và ông Bình đã nộp mỗi người 50.000.000 đồng vào tài khoản Công ty DLTM Cổ Loa (phiếu thu số 06, 07). Ngày 26/10/2004, ông Việt đã nộp 393.750.000 đồng vào tài khoản Công ty DLTM Cổ Loa (phiếu thu số 04). Ngày 26/11/2004, ông đã nộp 446.250.000 đồng vào tài khoản Công ty DLTM Cổ Loa (phiếu thu số 05). Tuy nhiên, tổng số tiền 940.000.000 đồng mà ông Việt và ông Bình đã góp vốn đã không được Công ty TMDL Cổ Loa sử dụng để triển khai dự án. Hậu quả là dự án không thể triển khai được trong năm 2004. Đến năm 2005 khi Công ty DLTM Cổ Loa thực hiện cổ phần hóa thành Công ty cổ phần Du Lịch Thương Mại Cổ Loa. Ông Việt tiếp tục yêu cầu Công ty cổ phần Thương Mại Cổ Loa thực hiện các trách nhiệm của mình đối với Dự án.

Hợp đồng hợp tác liên doanh số 06/HĐHTLD tiếp tục Dự án xây dựng Khu biệt thự kinh doanh du lịch:

Nội dung hợp đồng số 06/HĐHTLD: Căn cứ quá trình hợp tác và các thỏa thuận đã ký trước đây, ngày 27/01/2007, ông Việt và Công ty cổ phần Kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC và Công ty cổ phần Du lịch thương mại Cổ Loa (Công ty mới cổ phần hóa, sau đây gọi tắt là “Công ty Cổ Loa”) ký Hợp đồng hợp tác liên doanh số 06/HĐHTLD với mục đích thành lập Công ty Cổ phần du lịch Hoàng Giang để hoàn thành các thủ tục và triển khai Dự án xây dựng khu biệt thự kinh doanh du lịch (giai đoạn 2 của Dự án đầu tư xây mới nâng cấp khách sạn Thủy Tạ). Theo hợp đồng số 06/HĐHTLD, Công ty Cổ Loa có trách nhiệm cùng góp vốn và thực hiện các thủ tục xin thuê đất để triển khai Dự án, sau đó chuyển lại cho Công ty Hoàng Giang để thực hiện việc đầu tư xây dựng.

Tỷ lệ góp vốn vào Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang như sau: Công ty Cổ phần Du Lịch Thương mại Cổ Loa góp 2.000.000.000 đồng chiếm 40% vốn Điều lệ Công ty. Ông Hồ Hữu Việt góp 750.000.000 đồng chiếm 15% vốn Điều lệ Công ty. Công ty AIC góp 2.250.000.000 đồng chiếm 45% vốn Điều lệ Công ty.

Như vậy, tỷ lệ góp vốn của ông và Công ty AIC chiếm 60% vốn điều lệ Công ty.

Quá trình thực hiện Hợp đồng số 06/HĐHTLD:

Ngày 10/3/2008, Công ty cổ phần Du lịch Hoàng Giang đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103022833. Tuy nhiên, Công ty Cổ Loa không thực hiện trách nhiệm góp vốn để chuẩn bị đầu tư và thực hiện Dự án. Toàn bộ kinh phí đều do ông và các nhà đầu tư góp vốn.

Đến năm 2009, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 0112100079 ngày 30/3/2009 cho Công ty cổ phần Du lịch tương mại Cổ Loa thực hiện dự án đầu tư Khu biệt thự kinh doanh du lịch với nội dung:

- Tên dự án: Khu biệt thự kinh doanh du lịch.

- Địa điểm thực hiện: Tổ 7, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Diện tích đất dự kiến sử dụng khoảng 5.744,9m2.

- Tổng vốn đầu tư dự kiến: 18.942.000 đồng. Trong đó, vốn tự có của Công ty là 4.000.000 đồng, vốn tự huy động hợp pháp khác là 14.492.000 đồng.

- Quy mô: Xây dựng 05 nhà nghỉ du lịch thấp tầng (gồm 02 tầng và 01 tầng áp mái) diện tích xây dựng khoảng 117,2m2/nhà, diện tích sàn xây dựng khoảng 323,3m2/nhà; Xây dựng 02 nhà nghỉ du lịch thấp tầng (03 tầng) diện tích xây dựng khoảng 235,8m2/nhà, diện tích sàn xây dựng khoảng 696,8m2/nhà; Xây dựng 01 nhà dịch vụ 02 tầng, diện tích xây dựng khoảng 104m2/nhà, diện tích sàn xây dựng khoảng 208m2/nhà.

Ngày 30/5/2012 Công ty Cổ Loa ký hợp đồng thuê 5.745m2 đất với Sở Tài nguyên Môi trường Hà Nội và ngày 20/11/2012 được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Diện tích 5.745m2 đất này do Công ty Cổ Loa đã quản lý, sử dụng và có quyết định giao đất từ năm 1998 và có hợp đồng thuê đất từ năm 1999).

Tuy nhiên từ đó đến nay dự án vẫn chưa được triển khai. Cho đến nay sau nhiều lần ông và các nhà đầu tư yêu cầu nhưng Công ty Cổ Loa vẫn không thực hiện theo các cam kết Hợp đồng số 06/HĐHTLD, cụ thể là:

- Công ty Cổ Loa không hoàn trả kinh phí mà ông đóng góp trước đây theo Hợp đồng góp vốn số 02/HĐGV ngày 30/6/2004 vào tài khoản Công ty Hoàng Giang để thực hiện Dự án. Công ty Hoàng Giang được thành lập để thực hiện Dự án.

- Mặc dù Công ty Hoàng Giang được thành lập để thực hiện dự án, kế thừa các quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ Loa đối với dự án nhưng Công ty Cổ Loa đã không thực hiện nghĩa vụ góp vốn vào Công ty Hoàng Giang, không để cho Công ty Hoàng Giang thực hiện các công việc thủ tục của Dự án và không cung cấp bất cứ thông tin nào về Dự án cho các cổ đông góp vốn và Dự án.

Ông đã nhiều lần yêu cầu Công ty Cổ Loa họp để giải quyết các vướng mắc của dự án nhưng Công ty Cổ Loa đã không cử người có đủ thẩm quyền tham gia các cuộc họp này. Nay Công ty Cổ Loa còn tỏ rõ ý định muốn bỏ qua những thỏa thuận tại Hợp đồng số 06/HDDHTLD và muốn tự mình thực hiện triển khai dự án. Việc làm này của Công ty Cổ Loa đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông liên quan đến việc góp vốn đầu tư xây dựng Biệt thự kinh doanh Du lịch, gây thiệt hại về tài sản và chi phí duy trì hoạt động của Công ty Hoàng Giang (trong đó có ông là cổ đông Công ty).

Tại đơn đề nghị ngày 27/6/2013, ông Hồ Hữu Việt cam đoan số tiền đã góp vào Công ty du lịch thương mại Cổ Loa, Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang là tài sản riêng của ông, không phải tài sản chung của 02 vợ chồng ông (Vợ ông là bà Phạm Kim Ngân, sinh năm 1968, địa chỉ: số nhà 832-834 Ngõ 814 Đường Láng, tổ 36, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội).

Bà Phạm Kim Ngân ủy quyền cho ông Hồ Hữu Việt tại Giấy ủy quyền số vào sổ CC số 260/2013/GUQ, quyển số 02/TP/CC-SCC/HDGD ngày 02/7/2013 của Văn phòng công chứng Ba Đình.

Nguyện vọng của nguyên đơn: Yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần thương mại và du lịch Cổ Loa thực hiện nghiêm chỉnh các nội dung quy định tại Hợp đồng số 06/HDDHTLD ngày 27/01/2007. Cụ thể, buộc Công ty Cổ Loa:

- Chuyển giao dự án đầu tư xây mới và nâng cấp khách sạn Thủy Tạ giai đoạn II cho Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang để Hoàng Giang tiếp tục triển khai;

- Chuyển tên chủ thuê đất để đầu tư xây dựng dự án giai đoạn II với diện tích đất 5744,9m2 tại Cầu Đôi, Đông Anh cho Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang;

- Thực hiện nghiêm chỉnh việc góp 2.000.000.000 đồng tương đương 40% vốn điều lệ Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang để triển khai và thực hiện dự án;

- Chuyển 940.000.000 đồng vào tài khoản Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang theo quy định của Hợp đồng hợp tác liên doanh 06/HDDHTLD.

Tổng giá trị tài sản yêu cầu Tòa án giải quyết là 11.365.200.000 đồng (Mười một tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng) tương đương 60% tổng vốn đầu tư dự án. Đây là con số ông đưa ra dựa trên tổng số vốn đầu tư theo dự án mà ông và ông Bình có 60% nhưng thực tế ông không đòi số tiền 11.365.200.000 đồng (Mười một tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng) mà ông yêu cầu Công ty cổ phần thương mại Cổ Loa tiếp tục thực hiện các thỏa thuận trong Hợp đồng hợp tác số 06 mà các ông đã ký kết với nhau như chuyển giao việc thực hiện dự án cho Công ty Hoàng Giang, góp đủ tiền vào Công ty Hoàng Giang theo thỏa thuận về phần vốn góp của các bên.

Sau đó, nguyên đơn thay đổi yêu cầu: Yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần thương mại và du lịch Cổ Loa thực hiện nghiêm chỉnh các nội dung quy định tại Hợp đồng số 06/HDDHTLD ngày 27/01/2007. Cụ thể, buộc Công ty Cổ Loa:

- Chuyển giao dự án đầu tư xây mới và nâng cấp khách sạn Thủy Tạ giai đoạn II (Theo Giấy chứng nhận đầu tư số 01121000279 ngày 30/3/2009) cho Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang để Hoàng Giang tiếp tục triển khai thực hiện dự án.

Còn tên chủ đầu tư của dự án vẫn là Công ty cổ phần thương mại du lịch Cổ Loa. Không yêu cầu chuyển tên dự án, chỉ yêu cầu giao đất cho Công ty cổ phần Hoàng Giang thực hiện dự án.

- Thực hiện nghiêm chỉnh việc góp 2.000.000.000 đồng tương đương 40% vốn điều lệ Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang để triển khai và thực hiện dự án.

- Chuyển 940.000.000 đồng vào tài khoản Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang theo quy định của Hợp đồng hợp tác liên doanh 06/HDDHTLD.

Trong trường hợp phía bị đơn cố tình vi phạm hợp đồng góp vốn thì yêu cầu bồi thường thiệt hại là 34.000.000.000 đồng cho ông và Công ty AIC theo cách tính: khả năng sinh lời của dự án là 10.000.000 đồng/m2 đất X 5745m2 X 60% tỷ lệ góp vốn = 34.000.000.000 đồng.

Bị đơn là Công ty cổ phần Du lịch Thương mại Cổ Loa trình bày:

Về thực trạng Công ty và quá trình thực hiện Dự án trước và sau khi cổ phần hóa:

* Giai đoạn trước khi cổ phần hóa: Từ tháng 11/2003, Dự án đầu tư xây dựng và nâng cấp Khách sạn Thủy Tạ của Công ty DLTM Cổ Loa được triển khai. Dự án được chia thành 02 giai đoạn: Giai đoạn 1 là đầu tư xây mới Khách sạn Thủy Tạ, tiêu chuẩn 3 sao, cao 09 tầng, có 01 tầng trệt và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, nằm trên diện tích đất 4.275m2, bắt đầu công tác chuẩn bị từ tháng 11/2003, nguồn vốn vay ngân hàng là chủ yếu. Giai đoạn 2 là xây dựng khu biệt thự kinh doanh du lịch quy mô gần 09 biệt thự, 02 sân cầu lông, nhà dịch vụ và hạ tầng kĩ thuật đường bộ, nằm trên diện tích đất 5.745m2 được triển khai từ tháng 5/2004, nguồn vốn huy động từ các thành phần kinh tế (dự kiến là 23.000.000.000 đồng).

Ngày 30/6/2004, ông Nguyễn Đăng Dưỡng đại diện Công ty DLTM Cổ Loa đã ký hợp đồng số 01/HĐGV với ông Nguyễn Quang Bình và Hợp đồng số 02/HDGV với ông Hồ Hữu Việt về việc góp vốn xây dựng Khu biệt thự kinh doanh du lịch Touris Villa (Giai đoạn 2 dự án đầu tư xây dựng mới và nâng cấp khách sạn Thủy Tạ) tại Cầu Đôi, Đông Anh. Theo Hợp đồng này trong tháng 07/2004, ông Việt và ông Bình phải góp 50% vốn lập dự án, xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên đến hết tháng 11/2004, ông Việt và ông Bình mới thực hiện góp vốn được một phần vốn như sau:

- Ông Hồ Hữu Việt đã chuyển cho Công ty DLTM Cổ Loa tổng số tiền góp vốn là: 890.000.000 đồng.

- Ông Nguyễn Quang Bình đã chuyển cho Công ty DLTM Cổ Loa tổng số tiền góp vốn là: 50.000.000 VNĐ.

Khi chưa được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan chủ quản là Sở Du Lịch thành phố Hà Nội về việc hợp tác với các nhà đầu tư là ông Việt và ông Bình để thực hiện Dự án, các hợp đồng góp vốn nêu trên đã được Công ty triển khai ký kết, điều này là trái với quy định pháp luật.

Ngoài ra tại thời điểm trước cổ phần hóa, hầu hết các tài sản của Công ty được thế chấp để vay vốn ngân hàng. Nợ phải trả tính đến cuối năm 2004 là 14.354.392.129 đồng, trong khi Nguồn vốn chủ sở hữu chỉ còn 1.656.261.982 đồng (căn cứ Bảng cân đối kế toán của Công ty lập ngày 31/01/2005).

* Giai đoạn sau khi cổ Phần hóa: Công ty DLTM Cổ Loa chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần theo quyết định số 2579/QĐ-UB ngày 04/5/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và được Sở kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép hoạt động. Tổng vốn điều lệ là 8.300.000.000 đồng, trong đó vốn nhà nước là 63,7% được giao cho Tổng Công ty Du lịch Hà Nội quản lý.

Sau khi cổ phần hóa, Công ty cổ phần DLTM Cổ Loa được bàn giao số nợ phải trả lên đến 15.699.431.750 đồng. Căn cứ Biểu chi tiết nợ phải trả được tính vào giá trị doanh nghiệp bàn giao sang Công ty cổ phần tại thời điểm hết ngày 13/6/2005.

Ngày 30/6/2006, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội có Quyết định 3040/QD-UBND về việc xử lý lỗ kinh doanh từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đến thời điểm bàn giao của Công ty cổ phần DLTM Cổ Loa, trong đó cho phép giảm vốn Nhà nước với số tiền 1.927.436.987 đồng.

Ngày 18/12/2006, Sở kế hoạch và đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty với phần vốn Nhà nước sau khi điều chỉnh còn 51% tổng vốn điều lệ.

Hiện trạng tài chính của Công ty thời điểm này đặc biệt khó khăn, kinh doanh không có vốn, đồng thời tồn tại nhiều khoản vay từ các ngân hàng. Các khoản thu không đủ để chi phí cho hoạt động kinh doanh, các tài sản của Công ty đã thế chấp tại các Ngân hàng từ thời điểm trước cổ phần hóa. Trước tình hình đó, ngày 08/5/2009, Tổng Công ty du lịch Hà Nội đã có (Công văn số 76/HĐQT-TCT của Chủ tịch HĐQT gửi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Chi cục Tài chính doanh nghiệp về việc đề nghị bán 51% vốn nhà nước tại Công ty CPDLTM Cổ Loa và đã được thành phố chấp thuận.

Theo các tài liệu hiện có, Công ty không đủ căn cứ đế xác minh việc nhận bàn giao số tiền góp vốn 940.000.000 đồng của các nhà đầu tư theo Hợp đồng góp vốn số 01 và 02 từ Công ty DLTM Cổ Loa (Công ty trước cổ phần hóa). Vì vậy Công ty đề nghị các nhà đầu tư liên hệ làm việc với chủ sở hữu và lãnh đạo Công ty trước khi cổ phần hóa để tiến hành giải quyết làm rõ.

Mặc dù kinh doanh thu lỗ nhưng Công ty CPDLTM Cổ Loa đã ký kết hợp đồng hợp tác liên doanh số 06/HĐHTLD ngày 27/01/2007 với ông Hồ Hữu Việt và Công ty CP Kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC để hợp tác thực hiện dự án mà không tính đến hiệu quả kinh doanh và năng lực tài chính của Công ty.

Thực tế, khi xem xét tình hình thị trường bất động sản tại địa bàn huyện Đông Anh thời điểm năm 2007 và đánh giá mức độ khả thi của dự án thì các nội dung trong hợp đồng 06/HĐHTLD là hoàn toàn không có khả năng mang lại lợi nhuận hay hiệu quả kinh doanh. Điều này cũng được Tổng Công ty du lịch Hà Nội khẳng định lại một lần nữa tại Tờ trình số 96/TTR-TGĐ đề nghị chuyển nhượng phần vốn Nhà nước do Tổng Công ty quản lý tại Công ty CPDLTM Cổ Loa ngày 06/5/2009: “Do thu nhập của người dân Đông Anh thấp, các cơ quan đóng trên địa bàn chủ yếu là các Công ty tư nhân, Công ty cổ phần nhỏ, vị trí địa lý lại gần thủ đô nên rất ít khách lưu trú tại Đông Anh, trong khi lãi suất vay tại các Ngân hàng thương mại lại cao. Do vậy, việc đầu tư xây dựng khách sạn, nhà hàng tại Đông Anh trong giai đoạn này sẽ không hiệu quả”.

Mặt khác, để thực hiện việc góp vốn vào Công ty CPDL Hoàng Giang theo hợp đồng 06/HĐHTLD, Công ty CPDLTM Cổ Loa chỉ có thể huy động từ nguồn vay Ngân hàng vì vốn chủ sở hữu đã bị thâm hụt, số liệu năm 2007 là (1.690.815.376 đồng) theo Biên bản kiểm toán Báo cáo tài chính năm 2007 của Công ty CPDLTM Cổ Loa do kiểm toán Nhà nước thực hiện. Vốn chủ sở hữu Công ty vẫn bị duy trì tình trạng thâm hụt trong các năm tiếp theo.

Tuy nhiên, toàn bộ các tài sản của Công ty đã bị thế chấp vào Ngân hàng từ trước giai đoạn cổ phần hóa. Đồng thời, ngân hàng liên tục có công văn đòi nợ, phong tỏa tài sản, cơ sở vật chất của Công ty xuống cấp không có vốn để đầu tư nâng cấp, người lao động không đủ việc làm, hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ, dẫn tới tình trạng lỗ cộng dồn, thâm hụt vốn chủ sở hữu. Theo đó, việc tiếp tục vay Ngân hàng là không thể thực hiện. Bản thân Công ty còn nợ lương, bảo hiểm của người lao động nghỉ hưu không có tiền nộp bảo hiểm xã hội. Do đó, công ty hoàn toàn không có khả năng huy động vốn để thực hiện hợp đồng số 06/HĐHTLD. Hợp đồng 06/HĐHTLD là sự thỏa thuận của các bên về những nội dung không thể thực hiện được.

Công ty Cổ phần Du lịch Thương mại Cổ Loa đề nghị Tòa án xem xét công nhận tính bất khả thi trong việc thực hiện các nội dung của hợp đồng 06/HĐHTLD, đảm bảo quyền lợi của Công ty CPDLTM Cổ Loa nói chung và các cổ đông mới của Công ty nói riêng.

Quan điểm của bị đơn:

Hợp đồng góp vốn số 06 vô hiệu do không được thông qua Đại hội đồng cổ đông Công ty cũng như được Hội đồng quản trị (tại thời điểm ký hợp đồng thì tổng giá trị tài sản của Công ty khoảng 17 tỷ đồng mà hợp đồng góp vốn trị giá 18 tỷ đồng).

- Hội đồng quản trị Công ty cổ phần thương mại Cổ Loa đề nghị Tòa án làm rõ tại sao từ năm 2005 lúc đó Tổng Công ty du lịch Hà Nội còn nắm giữ phần vốn chi phối tại Công ty Cổ Loa đã đồng ý cho Công ty Cổ Loa ký kết hợp đồng hợp tác đầu tư với ông Việt và ông Bình và sau này lại không thực hiện các nội dung hợp tác đầu tư với ông Việt, ông Bình để xảy ra tranh chấp như hiện nay.

Yêu cầu Tòa án công nhận tính bất khả thi trong việc thực hiện các nội dung của Hợp đồng số 06/HĐHTLD với các lý do sau:

- Nguyên đơn yêu cầu chuyển tên chủ thuê đất để đầu tư xây dựng dự án giai đoạn II với diện tích đất 5.744,9m2 tại Cầu Đôi, Đông Anh cho Công ty Cổ phần du lịch Hoàng Giang: Yêu cầu này là không hợp pháp do diện tích đất này đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cho Công ty CPDLTM Cổ Loa thuê trong thời hạn 50 năm. Ngày 20/11/2012, Công ty Cổ phần DLTM Cổ Loa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 666112 (đất thuê 50 năm). Vì vậy, Công ty cổ phần du lịch TM Cổ Loa chỉ có quyền và nghĩa vụ đối với Khu đất của Dự án trong phạm vi quy định tại Điều 105, 107 và 111 Luật Đất Đai.

- Thực hiện góp vốn vào Công ty CPDL Hoàng Giang: Năm 2008 Công ty CPDLTM Cổ Loa đã góp 30.000.000 đồng vào Công ty Hoàng Giang (theo Phiếu chi và Phiếu thu ngày 27/5/2008). Tuy nhiên ông Việt và Công ty AIC cũng chưa hoàn thành nghĩa vụ đóng góp vào Công ty Cổ phần du lịch Hoàng Giang nên vi phạm quy định tại Hợp đồng số 06/HĐHTLD. Do vậy, ông Việt không đủ tư cách yêu cầu Công ty cổ phần DLTM Cổ Loa góp vốn.

- Chuyển giao dự án cho Công ty cổ phần Du Lịch Hoàng Giang: Hội đồng quản trị của Công ty Hoàng Giang từ khi thành lập không thực hiện các nhiệm vụ điều hành Công ty để thành lập dự án. Hiện nay, Công ty Cổ phần du lịch Hoàng Giang không hoạt động, thể hiện việc không có trụ sở làm việc, không có người điều hành và nhân viên do Giám đốc và các kế toán đã làm đơn xin nghỉ việc từ tháng 08/2011. Quan điểm trước sau của bị đơn là không chấp nhận tất cả những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng góp vốn số 06 vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

1. Ông Nguyễn Quang Bình trình bày:

Ngày 30/6/2004, tôi đứng tư cách là cá nhân đã ký “Hợp đồng góp vốn xây dựng” số 01/HĐGV với Công ty Du lịch Thương mại Cổ Loa do ông Nguyễn Đăng Dưỡng - Giám đốc Công ty làm đại diện với mục đích góp vốn đầu tư xây dựng Khu biệt thự kinh doanh du lịch (Giai đoạn 2 của dự án đầu tư xây dựng mới và nâng cấp khách sạn Thủy Tạ).

Để thực hiện trách nhiệm như đã thỏa thuận trong hợp đồng, ngày 12/7/2004 ông đã nộp vào Công ty Cổ Loa 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để thực hiện dự án (kèm theo chứng từ nộp tiền ngày 12/7/2004). Đó là tiền cá nhân ông không phải của vợ chồng (bà Bình đã có văn bản xác nhận và ủy quyền cho ông tham gia tố tụng).

Nhưng kể từ thời điểm đó cho đến cuối năm 2006, Công ty Cổ Loa đã không thực hiện dự án như đã thỏa thuận tại hợp đồng nêu trên với lý do Công ty Cổ Loa gặp khó khăn về tài chính mà thực chất là sử dụng tiền góp vốn sai mục đích. Nguyện vọng của cá nhân ông là nhất trí với ý kiến của ông Việt. Đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết bảo vệ quyền lợi cho cá nhân ông.

2. Công ty cổ phần Kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC do ông Bình là Tổng giám đốc đại diện theo pháp luật trình bày:

Kể từ thời điểm ký kết hợp đồng góp vốn số 01/HĐGV ngày 30/6/2004 giữa Công ty Cổ Loa và ông (Nguyễn Quang Bình) chưa được thực hiện đúng và đầy đủ, nhưng các bên đều có nhu cầu và nguyện vọng muốn tiếp tục thực hiện dự án nêu trên. Vì vậy, tháng 01 năm 2007, tôi với tư cách là pháp nhân, đại diện theo pháp luật cho Công ty cổ phần Kiến trúc và đô thị xây dựng AIC đã cùng với Công ty Cổ Loa và ông Hồ Hữu Việt cùng bàn bạc và đi đến thống nhất như sau:

Công ty cổ phần Kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC phối hợp với Công ty cổ phần DLTM Cổ Loa và ông Hồ Hữu Việt ký kết “Hợp đồng hợp tác liên doanh” số 06/HĐHTLD ngày 27/01/2007 để tiếp tục thực hiện dự án nêu trên. Để đảm bảo tính khả thi và thực hiện nghiêm túc của các bên, chúng tôi đã cùng thống nhất sẽ thành lập một pháp nhân mới là Công ty cổ phần Du lịch Hoàng Giang để thay mặt cho các bên thực hiện dự án. Đồng thời xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của các bên được thể hiện chi tiết tại các điều, khoản trong bản hợp đồng số 06/HĐHTLD nêu trên. Đặc biệt trong Điều 9 - Điều khoản “Cam kết của bên A - Công ty Cổ Loa” có nêu:

- Không tự ý thay đổi các đối tác trong dự án hoặc từ bỏ ý định thực hiện dự án mà không có thỏa thuận trước với bên B và bên C.

- Tiến hành thủ tục xin thuê đất của dự án giai đoạn 2, phối hợp với bên B và C để tiến hành các thủ tục thành lập Công ty. Hoàn trả các kinh phí bên B và bên C đã đóng góp trước đây theo các hợp đồng góp vốn xây dựng số 01/HĐGV và số 02/HĐGV ký kết ngày 30/6/2004 vào tài khoản Công ty Hoàng Giang để thực hiện dự án.

Để thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ theo như quy định tại hợp đồng số 06 và theo sự điều hành của ban giám đốc Công ty Hoàng Giang, Công ty AIC đã góp vốn đầy đủ theo đúng các lần thông báo của Công ty Hoàng Giang (Kèm theo chứng từ góp vốn). Quan điểm của Công ty Aie là yêu cầu Công ty cổ phần Cổ Loa thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng góp vốn số 06. Khi triển khai dự án thì Công ty AIC có ký hợp đồng với Công ty cổ phần Cổ Loa để thực hiện việc tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi với giá trị quyết toán là 292.308.000 đồng. Công ty cổ phần Cổ Loa đã trả chậm theo thỏa thuận nên Công ty AIC đòi thêm khoản lãi chậm trả nhưng không đề nghị Tòa án giải quyết khoản tiền lãi trong vụ án này. Nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Việt. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật bảo vệ quyền lợi cho Công ty AIC.

 3. Công ty CP Du lịch Hoàng Giang do ông Nguyễn Quang Bình là Chủ tịch Hội đồng quản trị đại diện theo pháp luật trình bày:

Căn cứ vào Hợp đồng số 06/HĐHTLD, Công ty cổ phần Kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC, Tổng Công ty Du lịch Hà Nội (đại diện là Công ty cổ phần DLTM Cổ Loa) và ông Hồ Hữu Việt đã thanh lập Công ty cổ phần Du lịch Hoàng Giang để tổ chức thực hiện dự án và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103022833 ngày 10/03/2008. Theo tinh thần của hợp đồng số 06, các bên thống nhất về cơ cấu tổ chức bộ máy nhân sự Công ty cổ phần Du lịch Hoàng Giang như sau:

*Hội đồng quản trị gồm:

1. Ông Nguyễn Quang Bình (Công ty AIC)

 - Chủ tịch  HĐQT

2. Bà Nguyễn Thị Minh Hồng ( Công ty Cổ Loa)

 - Phó Chủ tịch HĐQT

3. Ông Vũ Đình Thi (Tổng Cty du lịch HN)

- Ủy viên HĐQT

4. Ông Hồ Hữu Việt

- Ủy viên HĐQT

5. Bà Đỗ Thị Suốt (Công ty AIC)

- Ủy viên HĐQT

* Ban lãnh đạo gồm:

1. Ông Nguyễn Minh Tiến

- Giám đốc Công ty

2. Bà Đỗ Thị Suốt

- Kế toán trưởng Công ty

Kể từ khi thành lập đến hết năm 2010, Công ty CP Du lịch Hoàng Giang đã thực hiện toàn bộ thủ tục liên quan đến:

- Nhận vốn góp của Công ty cổ Loa, Công ty AIC và ông Hồ Hữu Việt vào Công ty Hoàng Giang để thực hiện dự án.

- Làm toàn bộ thủ tục liên quan đến dự án cho đến lúc được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đầu tư (Giấy chứng nhận đầu tư số 0112000279 ngày 30/3/2009).

Từ năm 2010 đến nay, do Công ty CP DLTM Cổ Loa không đóng góp vốn theo như cam kết trong hợp đồng 06/HĐHTLD nên Công ty Hoàng Giang không thể tiếp tục thực hiện dự án như thỏa thuận giữa các bên tham gia. (Công ty Hoàng Giang ra thông báo 03 lần: lần đầu Công ty Cổ Loa nộp được 30.000.000 đồng, hai lần sau không nộp, ông Việt và Công ty AIC nộp theo đúng thông báo). Tổng số tiền góp vốn của các bên là 190.000.000 đồng, Công ty cổ phần Hoàng Giang đến nay chưa thay đổi  đăng ký kinh doanh.

Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết:

- Buộc Công ty Cổ Loa tiếp tục thực hiện dự án theo nội dung đã thỏa thuận tại Hợp đồng số 06/HĐHTLD đã ký ngày 27/01/2007 giữa các bên.

+ Phải chuyển trả các kinh phí mà bên B và bên C đã đóng góp trước đây là 940.000.000 (Chín trăm bốn mươi triệu đồng) theo các hợp đồng góp vốn xây dựng số 01/HĐGV và số 02/HĐGV ký kết ngày 30/6/2004 vào tài khoản của Công ty Hoàng Giang. Và phải chịu thêm khoản tiên lãi của số tiền nêu trên do chậm thực hiện nghĩa vụ kể từ ngày 10/3/2008 (Ngày Công ty Hoàng Giang được thành lập) theo quy định của pháp luật.

+ Bàn giao mặt bằng diện tích đất 5.745,0m2 được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BM 666112 cấp ngày 20/11/2012 cho Công ty Hoàng Giang để tiếp tục thực hiện dự án.

- Buộc Công ty Cổ Loa thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ về phần vốn góp theo như các lần thông báo góp vốn lần 1 là 60.000.000 (Sáu mươi triệu đồng) lần 2 là 26.000.000 (Hai sáu triệu đồng) và lần 3 là 33.400.000 (Ba mươi ba triệu bốn trăm ngìn đồng) mà Công ty Hoàng Giang đã thông báo để thực hiện dự án.

- Xác nhận Công ty Hoàng Giang mới họp HĐQT một lần, chưa Đại hội đồng cổ đông lần nào. Xác nhận Công ty Hoàng Giang hoạt động đến hết năm 2011 thì dừng hoạt động do không có kinh phí (trụ sở thuê của Công ty cổ phần Cổ Loa). Việc cấp giấy chứng nhận đầu tư là do Công ty Hoàng Giang tiến hành, Công ty Cổ Loa chỉ ký các giấy tờ còn Công ty Hoàng Giang đi làm hết, tất cả chi hết 214.805.500 đồng (chi phí dự án là 173.000.000 đồng).

4. Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển du lịch Đông Anh (DAC) do ông Hồ Hữu Việt là chủ tịch Hội đồng quản trị đại diện theo pháp luật trình bày:

DAC xác nhận có đầu tư xây dựng vào khu đất do Công ty Cổ Loa quản lý khu vui chơi nước. Sau một thời gian hoạt động không hiệu quả nên đã tạm dừng kinh doanh. Khi Sở du lịch Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đồng ý chủ trương cho phép lập dự án khu biệt thự kinh doanh du lịch thì để có đất không kiện cáo phục vụ cho việc lập và phê duyệt dự án, trên cơ sở đề nghị của Công ty Cổ Loa, Công ty DAC đã có (Công văn số 08/CV - DAC gửi Công ty Cổ Loa đồng ý giao toàn bộ mặt bằng các khu vực đã đầu tư cho Công ty Cổ Loa để thực hiện dự án. Công ty Cổ Loa phải trả chi phí đã xây dựng và di dời. Trước kia Công ty DAC có đề nghị Tòa án xem xét quyền lợi của Công ty DAC trên khu đất này nhưng đến ngày 21/8/2014 lại có văn bản không yêu cầu giải quyết trong vụ án trong mọi trường hợp.

5. Ông Nguyễn Đăng Dưỡng - nguyên giám đốc Công ty cổ phần Du lịch thương mại Cổ Loa trình bày:

Ông xác nhận ngày 30/6/2004 Công ty Cổ Loa do ông làm giám đốc có ký 02 hợp đồng góp vốn số 01 với ông Nguyễn Quang Bình và số 02 với ông Hồ Hữu Việt. Các hợp đồng này có nội dung như ông Việt đã trình bày, trên cơ sở phương án xây dựng khu biệt thự kinh doanh du lịch được Tổng Công ty du lịch và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt.

Ông xác nhận ông Việt đã góp 890.000.000 đồng, ông Bình góp 50.000.000 đồng.

Các bên đã triển khai được một số việc xong chậm so với tiến độ đã thỏa thuận là do phải làm nhiều khâu, nhiều thủ tục bị chậm.

Đến ngày 01/5/2005 thì ông tôi có quyết định chuyển công tác về Tổng công ty Du lịch Hà Nội. Ông đã lập biên bản bàn giao công việc cho bà Hồng là Phó giám đốc Công ty trong đó có cả số tiền 940.000.000 đồng góp vốn của các cá nhân (có biên bản bàn giao). Theo báo cáo của cán bộ thì chi phí cho dự án chi đến thời điểm ông nhận bàn giao là 90.000.000 đồng (có xác nhận của Kế toán trưởng Công ty cổ phần Cổ Loa tại thời điểm hiện nay).

Ông, xác nhận ngày 10/7/2004, theo đề nghị của ông Hồ Hữu Việt thì ba người gồm tôi (Dưỡng) - ông Việt - ông Nguyễn Quang Bình đã ký 01 bản thỏa thuận phân công trách nhiệm gọi vốn đầu tư. Sau đó Công ty cổ phần Cổ Loa vẫn tiếp tục triển khai các bước thực hiện dự án tiếp theo. Theo thông tin ông được biết thì sau khi hoàn thành cổ phần hóa Công ty cổ phần Cổ Loa đã ký hợp đồng với ông Việt, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết.

6. Bà Phạm Thị Ngân ủy quyền cho ông Việt có xác nhận tiền, ông Việt góp vốn là tài sản riêng của ông Việt, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

7. Bà Nguyễn Thị Tân Bình ủy quyền cho ông Bình có xác nhận tiền ông Bình góp vốn là tài sản riêng của ông Bình, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 38/2014/KDTM-ST ngày 08/09/2014, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Hữu Việt đối với Công ty cổ phần Du lịch thương mại Cổ Loa về việc tiếp tục thực hiện Hợp đồng hợp tác liên doanh số 06/HĐHTLD ký ngày 27/1/2007 giữa ông Hồ Hữu Việt, Công ty cổ phần Du lịch thương mại Cổ Loa, Công ty cổ phần Kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC.

- Tuyên bố Hợp đồng hợp tác liên doanh số 06/HĐHTLD ký ngày 27/1/2007 giữa ông Hồ Hữu Việt, Công ty cổ phần Du lịch thương mại Cổ Loa, Công ty cổ phần Kiến trúc và đầu tư xây dựng Aie là vô hiệu toàn bộ.

- Thiệt hại do hợp đồng vô hiệu là: 129.914.123 đồng.

- Lỗi của Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa là 1/2 (50%), lỗi của Công ty cổ phần Kiến trúc và đầu tư cây dựng Aie là 1/4 (25%) và ông Hồ Hữu Việt là 1/4 (25%).

- Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa phải bồi thường thiệt hại cho ông Hồ Hữu Việt là 21.630.885 đồng và bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần Kiến trúc và Đầu tư xây dựng AIC số tiền là 43.326.730 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Hữu Việt đòi Công ty cổ phần Cổ Loa phải bồi thường thiệt hại do không thực hiện Hợp đồng số 06/HĐHTLD ký ngày 27/1/2007 số tiền 34.470.000.000 đồng.

2. Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa phải trả cho ông Hồ Hữu Việt số tiền là: 1.748.217.426 đồng (số tiền gốc là 890.000.000 đồng và lãi 858.217.426 đồng) của hợp đồng góp vốn số 02/HĐGV ký ngày 30/6/2004.

Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa phải trả cho ông Nguyễn Quang Bình số tiền: 99.958.333 đồng (số tiền gốc là 50.000.000 đồng và lãi là 49.958.333 đồng) của hợp đồng góp vốn số 01/HĐGV ký ngày 30/6/2004.

3. Công ty cổ phần Du lịch thương mại Cổ Loa phải trả cho Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang số tiền là 214.805.500 đồng.

4. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển du lịch Đông Anh không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết quyền lợi của Công ty (nếu có) trong vụ án này. Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Ngoài ra bản án còn quyết định về việc thi hành án, án phí theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/9/2014 ông Hồ Hữu Việt có đơn kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm với lý do:  Tòa án cấp sơ thẩm xử không công bằng, dự án do nhiều công sức của ông đóng góp và đang khả thi nay không bị loại ra, tính toán bồi thường không thỏa đáng.

Ngày 22/9/2014 ông Nguyễn Quang Bình, đại diện Công ty cổ phần kiến trúc và đầu tư AIC, Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang, Công ty cổ phần đầu tư và phát triển du lịch Đông Anh có chung đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án sơ thẩm xét xử không công bằng, dự án có nhiêu công sức đóng góp của các ông nay đang thực hiện và khả thi nhưng bị loại ra và bồi thường chưa thỏa đáng.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Hồ Hữu Việt vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Ông và ông Bình đã có nhiều công sức để thực hiện dự án đầu tư xây mới và nâng cấp khách sạn Thủy Tạ giai đoạn II. Yêu cầu Công ty cổ phần thương mại và du lịch Cổ Loa thực hiện nội dung tại Hợp đồng số 06/HĐHTLD ngày 27/01/2007, chuyển giao dự án cho Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang để tiếp tục triển khai dự án. Đồng thời thực hiện nghiêm chỉnh việc góp vốn 2.000.000.000 đồng tương đương với 40% vốn điều lệ Công ty cổ phần Hoàng Giang để thực hiện dự án. Chuyển giao 940.000.000 đồng vào tài khoản Công ty cổ phần Hoàng Giang để thực hiện hợp đồng hợp tác liên doanh số 06.

Ông Nguyễn Quang Bình vừa đại diện tư cách cá nhân và đại diện cho Công ty AIC và Công ty cổ phần Hoàng Giang nhất trí nội dung kháng cáo như trình bày của ông Việt. Ông cho rằng các ông không phải cho vay tiền mà nay lại tính lãi số tiền đó, mà đề nghị thực hiện dự án.

Đại diện cho bị đơn không nhất trí kháng cáo của ông Việt và ông Bình, Hợp đồng số 06 vì không thông qua Đại hội đồng cổ đông nên không có hiệu lực, không nhất trí tiếp tục thực hiện hợp đồng góp vốn số 01, 02 lúc đó thuộc Công ty cũ khi chuyển từ Công ty nhà nước sang Công ty cổ phần còn ghi nợ hơn 14 tỷ và do thay đổi Công ty nên vấn đề này thuộc ban lãnh đạo cũ, Công ty Hoàng Giang đến thời điểm hiện nay không hoạt động được.

Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Hồ Hữu Việt trình bày: Được sự nhất trí của sở du lịch Hà Nội và để có đất sạch để thực hiện dự án, Công ty DAC đã đồng ý giao toàn bộ diện tích mặt bằng các khu vực đã đầu tư cho Công ty Cổ Loa. Ngày 30/5/2012 Công ty Cổ Loa đã được thuê diện tích đất 5,745m2 và ngày 20/11/2012 đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án, nhưng Công ty Cổ Loa vẫn chưa thực hiện dự án. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng số 06 vô hiệu nhưng không giải quyết đúng (theo Điều 137 Bộ luật dân sự) trở lại tình trạng ban đầu là thực hiện hợp đồng số 01, 02 do vậy cần hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Thủ tục: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Thỏa thuận tại hợp đồng số 06 đã không được Công ty Cổ Loa thông qua Đại hội đồng cổ đông là vi phạm luật doanh nghiệp và điều lệ Công ty. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định hợp đồng vô hiệu là có căn cứ. Nguyên đơn đề nghị bồi thường số tiền 34 tỷ (nhưng không có căn cứ để chứng minh thiệt hại) nên không có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy mức lãi suất trung bình của 3 Ngân hàng và xác định thiệt hại là số tiền lãi mà các bên đã đầu tư (129.000.000 đồng) và xác định là của Công ty Cổ Loa 50%, lỗi của Công ty Aie là 25% và lỗi của ông Việt là 25% là phù hợp pháp luật. Tuy nhiên khoản tiền Công ty Cổ Loa bồi thường 50% của số tiền 129.000.000 đồng (64.957.061 đồng) cho Công ty AIC và ông Việt theo tỷ lệ góp vốn là chưa chính xác mà ông Việt chỉ được bồi thường là 15.573.061 đồng, Công ty Aie là 49.384.000 đồng, nên cần phải điều chỉnh lại bản án sơ thẩm về phần này. Hợp đồng số 01, 02 Công ty Cổ Loa không muốn thực hiện nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tính lãi suất ngân hàng cho ông Việt và ông Bình là phù hợp.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các đương sự, luật sư.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa ông Hồ Hữu Việt và ông Nguyễn Quang Bình đều có nguyện vọng được tiếp tục thực hiện dự án xây dựng khu biệt thụ kinh doanh du lịch (giai đoạn 2 của dự án đầu tư xây mới nâng cấp khách sạn Thủy Tạ). Căn cứ Hợp đồng số 06/HĐHTLC ngày 27/01/2007 đã thực hiện giữa ông Việt, Công ty AIC và Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa thì tổng giá trị của hợp đồng này được các bên xác định tại thời điểm ký kết là: 18.942.117.000 đồng, tổng mức đầu tư này cũng được thể hiện tại Công văn số 650/SXD-TBP ngày 13/4/2007 của Sở xây dựng thành phố Hà Nội và trong Giấy chứng nhận đầu tư số 01121000229 do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 30/3/2009 cho Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa. Tuy nhiên tại thời điểm ký kết hợp đồng số 06 nêu trên thì tổng giá trị tài sản của Công ty Cổ Loa tính đến ngày 31/12/2006 tại báo cáo tài chính năm 2006 của Công ty DLTM Cổ Loa là 17.533.317.301 và khoản nợ phải trả là 14.006.865.579 VNĐ. Như vậy thực chất tài sản của Công ty chỉ còn 3.526.451.722 đồng (thực trạng đó còn kéo dài cho đến nay).

Theo điểm d khoản 2 Điều 108 Luật doanh nghiệp năm 2005, thì Đại hội đồng cổ đông có quyền: “Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Công ty nêu điều lệ Công ty không quy định một tỷ lệ khác”.

Tại điểm k khoản 3 Điều 17 Điều lệ Công ty (ban hành năm 2005) thì Đại hội đồng cổ đông cần thông qua (phê duyệt) đối với “Giao dịch mua, bán tài sản do Công ty hoặc bất kỳ chi nhánh nào thực hiện có giá trị từ 50% trở lên tổng giá trị tài sản của Công ty và các chi nhánh của Công ty tính theo sổ sách kế toán đã được kiểm toán gần nhất”.

Đồng thời tại khoản 3 Điều 25 Điều lệ Công ty cũng quy định: Hội đồng quản trị có thẩm quyền: “Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ, thông qua hợp đồng mua bán, vay cho vay và hợp đồng khác có giá trị đến 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của Công ty tại thời điểm gần nhất.

Như vậy theo quy định của Luật doanh nghiệp và điều lệ của Công ty Cổ Loa thì hợp đồng góp vốn số 06/HĐHTLD ký kết phải được thông qua Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ Loa. Bị đơn là Công ty Cổ Loa thì khẳng định hợp đồng 06 không được thông qua Đại hội đồng cổ đông, phía nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không xuất trình tài liệu nào thể hiện Hợp đồng góp vốn số 06 đã được thông qua Đại hội đồng cổ đông của Công ty Cổ Loa. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh nhưng không có căn cứ để xác định hợp đồng số 06 được thông qua Đại hội đồng cổ đông bất thường cũng như Đại hội đồng cổ đông thường niên của Công ty Cổ Loa. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định Hợp đồng hợp tác liên doanh số 06/HĐHTLD ký 03 bên ngày 27/01/2007 giữa Công ty cổ phần Cổ Loa và ông Hồ Hữu Việt và Công ty cổ phần AIC là vô hiệu do người đại diện theo pháp luật ký vượt quá thẩm quyền. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bồi thường thiệt hại theo lỗi của mình theo quy định tại các Điều 122, 127, 136, 137 Bộ luật dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Hữu Việt, ông Nguyễn Quang Bình, Công ty AIC, Công ty cổ phần Hoàng Giang về việc tiếp tục thực hiện.

Tại phiên tòa luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Hồ Hữu Việt đề nghị: Hợp đồng số 06/HĐHTLD vô hiệu, trở lại tình trạng ban đầu là thực hiện hợp đồng góp vốn số 01, 02 ngày 30/6/2004. Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng góp vốn số 01/HĐGV và Hợp đồng số 02/HĐGV ngày 30/6/2014 giữa Công ty Cổ Loa với ông Hồ Hữu Việt và ông Nguyễn Quang Bình. Công ty Cổ Loa thời điểm đó là doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở du lịch Hà Nội, phê duyệt từ tờ trình thực hiện giai đoạn II dự án xây mới nâng cấp khách sạn Thủy Tạ - Cầu Đôi. Sau khi ký hợp đồng góp vốn ông Việt đã nộp 890.000.000 đồng, ông Bình đã nộp 50.000.000 đồng vào Công ty Cổ Loa. Công ty Cổ Loa đã tiến hành một số bước để triển khai dự án như tiến hành thuê đơn vị khác là Công ty AIC lập dự án, thuê khoan trắc địa. Tuy nhiên việc không thực hiện đúng theo hợp đồng do nhiều nguyên nhân, trong đó có một phần do khách quan, 1 phần là do lỗi của các bên nên dự án đã không thực hiện theo đúng tiến độ ghi trong hợp đồng góp vốn 01, 02 nêu trên. Mặt khác do Công ty Cổ Loa đã chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang Công ty cổ phần theo quyết định số 2579/QĐ-UB ngày 04/5/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội thì cũng phải tuân theo luật doanh nghiệp cũng như điều lệ Công ty. Như vậy hợp đồng số 01, 02 nêu trên thực tế thời điểm đó cũng không thực hiện được hợp đồng nên đến nay không còn hiệu lực, do vậy không có căn cứ chấp nhận đề nghị của luật sư các bên cũng đã thống nhất chấm dứt hợp đồng và thỏa thuận chuyển 940.000.000 đồng ông Việt, ông Bình đã sang tài khoản của Công ty cổ phần Hoàng Giang tại hợp đồng liên doanh số 06/HĐHTLD ngày 27/11/2007. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc Công ty Cổ Loa phải hoàn trả cho ông Việt và ông Bình số tiền đã nộp, theo mức lãi suất 11% từ khi nộp tiền đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Cụ thể: Đối với ông Bình số tiền gốc là 50.000.000 đồng tiền lãi là 49.958.333 đồng.

Đối với ông Việt nộp 3 lần: tổng cộng gốc 890.000.000 đồng, tiền lãi là 858.217.426 đồng, tổng cộng là 1.748.217.426 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định lỗi của các bên dẫn đến Hợp đồng số 06 vô hiệu thì lỗi của Công ty Cổ Loa là 50% và lỗi của ông Việt là 25%,  lỗi của Công ty Aie là 25% là có căn cứ.    

Về  thiệt hại: Công ty Cổ Loa không yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm không xét. Thiệt hại mà ông Việt yêu cầu bồi thường 34.470.000 đồng, tính trên cơ sở khả năng sinh lời của dự án với số tiền 10 triệu/m2 đất, trên tỷ lệ góp vốn của ông và ông Bình là không có căn cứ chấp nhận (vì không có cơ sở để chứng minh thiệt hại), Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu này của ông Việt là phù hợp pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại của hợp đồng 06 do vô hiệu chỉ là tiền lãi suất của số tiền mà các bên đã đóng vào đế thành lập và hoạt động của Công ty Hoàng Giang từ khi nộp tiền vào cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm, tính theo lãi suất cho vay bình quân của ba Ngân hàng gồm Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, bình quân là 11%. Cụ thể: Tính góp vốn (3 bên) là 209.100.000 đồng, lãi là 129.914.123 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm quyết định Công ty Cổ Loa phải bồi thường cho ông Việt và Công ty AIC 50% của số tiền là 129.914.123 đồng là 64.957.061 cho ông Việt và ông Bình là đúng. Nhưng tại quyết định bồi thường cho ông Việt 21.630.885 và Công ty Aie là 43.326.730 là chưa chính xác. Vì tính theo tỷ lệ đã góp vốn thì ông Việt chỉ được bồi thường là 15.573.061, Công ty AIC được bồi thường là 49.384.000.000 đồng, do vậy cấp phúc thẩm cần sửa lại phần bồi thường của Công ty Cổ Loa về hợp đồng (06) cho phù hợp.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định chi phí hoạt động của Công ty Hoàng Giang là 214.805.500 đồng, do Công ty cổ phần Cổ Loa là người được thụ hưởng nên phải thanh toán cho Công ty cổ phần Hoàng Giang số tiền trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm đối với Công ty cổ phần Cổ Loa và ông Hồ Hữu Việt vẫn giữ nguyên như bản án sơ thẩm.

Do sửa bản án sơ thẩm như phân tích trên, nên ông Hồ Hữu Việt, ông Nguyễn Quang Bình, Công ty AIC và Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang không phải nộp án phí phúc thẩm, được hoàn lại dự phí kháng cáo phúc thẩm.

Từ nhận định trên, áp dụng các Điều 122; 127; 136; 137; 163 Bộ luật dân sự năm 2005.

Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC.

Áp dụng Điều 64 luật doanh nghiệp nhà nước.

Áp dụng các Điều 1, 3, 87 Luật đầu tư năm 2005.

Áp dụng các Điều 84, 96, 108 Luật doanh nghiệp năm 2005 và điều lệ Công ty Cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa năm 2005.

Áp dụng pháp lệnh án phí và lệ phí.

Căn cứ khoản 2 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Sửa bản sơ thẩm

1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Hữu Việt đối với Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng hợp tác liên doanh số 06/HĐHTLD ký ngày 27/01/2007 giữa ông Hồ Hữu Việt, Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa, Công ty cổ phần kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC.

Tuyên bố Hợp đồng hợp tác liên doanh số 06/HĐHTLD ký ngày 27/01/2007 giữa ông Hồ Hữu Việt, Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa, Công ty cổ phần kiến trúc và đầu tư xây dựng Aie là vô hiệu toàn bộ.

- Thiệt hại do hợp đồng vô hiệu là 129.914.123 đồng.

- Lỗi của Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa là ½ 950%), lời của Công ty cổ phần kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC là ¼ 925%) và ông Hồ Hữu Việt là ¼ (25%).

- Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa phải bồi thường thiệt hại cho ông Hồ Hữu Việt là 15.573.061 đồng và bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC số tiền 49.384.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Hữu Việt đến Công ty Cổ Loa phải bồi thường thiệt hại do không thực hiện Hợp đồng số 06/HĐHTLD ký ngày 27/01/2007 số tiền 34.470.000 đồng.

2/ Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa phải trả cho ông Hồ Hữu Việt số tiền là 1.748.217.426 đồng (số tiền gốc là 890.000.000 đồng và lãi 858.217.426 đồng) của Hợp đồng góp vốn số 02/HĐGV ký ngày 30/6/2004.

Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa phải trả cho ông Nguyễn Quang Bình số tiền 99.958.333 đồng (số tiền gốc là 50.000.000 đồng và lãi là 49.958.333 đồng) của Hợp đồng góp vốn số 01/HĐGV ký ngày 30/6/2004.

3/ Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa phải trả cho Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang số tiền 214.805.000 đồng.

4/ Ghi nhận ý kiến của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển du lịch Đông Anh chưa yêu cầu Tòa án xem xét quyên lợi của Công ty (nếu có) trong vụ án này.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Công ty cổ phần du lịch thương mại Cổ Loa phải chịu 74.558.760 đồng, ông Hồ Hữu Việt phải chịu 132.470.000 đồng đối với yêu cầu không được chấp nhận, được trừ vào 59.682.600 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm ông đã nộp ngày 11/4/2013 (Biên lai số 7695) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh, ông Việt còn phải nộp tiếp 72.787.400 đồng án phí sơ thẩm.

Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông Hồ Hữu Việt, ông Nguyễn Quang Bình, Công ty cổ phần kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang không phải nộp, được hoàn lại 200.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm cụ thể: Ông Hồ Hữu Việt tại biên lai thu tiền số 04156 ngày 01/10/2014); ông Nguyễn Quang Bình (tại biên lai thu tiền số 04157 ngày 01/10/2014); Công ty cổ phần kiến trúc và đầu tư xây dựng AIC (tại biên lai thu tiền số 04159 ngày 01/10/2014); Công ty cổ phần du lịch Hoàng Giang (tại biên lai thu tiền số 04158 ngày 01/10/2014) của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nêu bên phải thi hành án không trả hết các khoản tiền thì phải chịu lãi suất, theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định trên số tiền còn phải thi hành với thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


216
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về