Bản án 46/2016/DS-PT ngày 09/05/2016 về tranh chấp thừa kế tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 46/2016/DS-PT NGÀY 09/05/2016 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 5 năm 2016, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 65/2015/TLPT-DS ngày 30 tháng 9 năm 2015 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” do bản án Dân sự sơ thẩm số 32/2014/DS-ST ngày 05/5/2014 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1039/2016/QĐ- PT ngày 15 tháng 4 năm 2016, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Nghiêm, sinh năm 1943; Trú tại: Xóm Bầu, thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội); có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh Dũng; sinh năm 1962, trú tại: thôn Thắng Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; có mặt.

2. Bị đơn: Cụ Tạ Thị Gái, sinh năm 1928; Trú tại: Xóm Đầu Làng, thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội); cụ Gái ủy quyền cho bà Trần Thị Bé (tức Trần Thị Nhi), sinh năm 1952; Trú tại: Xóm Đầu Làng, thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội); có mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

- Bà Trần Thị Nhung, sinh năm 1940; Trú tại: số 106 đường Trần Hưng Đạo, phường Chánh Lộ, thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

- Bà Trần Thị Minh (chết năm 2011). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Minh gồm: Ông Đặng Trần Thảo (chồng bà Minh); Chị Đặng Thị Lý, anh Đặng Trần Toàn, anh Đặng Trần Thắng, anh Đặng Trần Thông (đều là con bà Minh); đều trú tại: Xóm Đầu Làng, thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội); đều có đơn xin xử vắng mặt.

- Bà Trần Thị Bé (tức Trần Thị Nhi), sinh năm 1952; Trú tại: Xóm Đầu Làng, thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội); có mặt.

- Bà Trần Thị Nga, sinh năm 1948;

- Ông Ngô Quang Bình, sinh năm 1951;

- Anh Ngô Phi Long, sinh năm 1976;

- Anh Ngô Hồng Phong, sinh năm 1978;

- Chị Ngô Huyền Giang, sinh năm 1987;

- Chị Đặng Thị Đào, sinh năm 1980;

* Ông Bình, anh Long, anh Phong, chị Giang, chị Đào, bà Nga đều ủy quyền cho bà Bà Trần Thị Bé (tức Nhi).

- Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là UBND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội); Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Mạnh Tuấn - Chủ tịch UBND quận Bắc Từ Liêm.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Biên - Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bắc Từ Liêm; vắng mặt.

NHẬN THẤY

* Theo nguyên đơn bà Trần Thị Nghiêm trình bày: Bố mẹ của bà là cụ Trần Văn Hồi và cụ Nguyễn Thị Sâm; cụ Hồi và cụ Sâm có 03 người con chung là bà Trần Thị Nhung, bà Trần Thị Minh và bà Trần Thị Nghiêm. Cụ Sâm chết năm 1946, không để lại di chúc. Năm 1948 cụ Hồi lấy người vợ thứ hai là Tạ Thị Gái. Cụ Hồi và cụ Gái có 02 người con chung là Trần Thị Nga và Trần Thị Bé (tức Nhi); ngoài ra, cụ Hồi, cụ Sâm và cụ Gái không có người con nuôi, con riêng nào khác. Năm 1952 Cụ Hồi chết, không để lại di chúc.

Di sản của cụ Hồi và cụ Sâm để lại gồm 01 ngôi nhà xây gạch lợp ngói, 01 bếp đun xây gạch lợp ngói và 01 bể nước trên thửa đất 01 sào tọa lạc tại xóm Đầu Làng, thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội (nay thuộc phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm) hiện do cụ Gái và gia đình bà Bé đang quản lý, sử dụng. Theo bà Trần Thị Nghiêm thì năm 1976 bà (Nghiêm) khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Hồi và cụ Sâm. Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã thụ lý, giải quyết nhưng cho đến nay bà vẫn chưa được nhận quyền lợi về thừa kế nên bà yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Hồi và cụ Sâm. Bà yêu cầu được nhận bằng hiện vật và nhận chung với hai chị gái là bà Nhung và bà Minh để thuận tiện cho việc quản lý sử dụng tài sản thừa kế.

* Theo bị đơn - cụ Tạ Thị Gái do bà Trần Thị Bé (tức Nhi) là đại diện theo ủy quyền trình bày: xác nhận quan hệ huyết thống gia đình như lời khai của nguyên đơn. Tài sản của cụ Hồi để lại gồm có: nhà ở, bếp đun và bể nước trên  thửa đất diện tích 14 thước (kiểm tra thực tế là 351m2). Khối tài sản này do cụ Gái và gia đình bà Bé đang quản lý, sử dụng và không chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố. Trong quá trình sử dụng, bà Bé và các thành viên trong gia đình đã phá dỡ nhà ở cũ, bếp đun và bể nước cũ, xây dựng nhà ở và các công trình xây dựng mới để được hiện trạng như hiện nay.

Năm 1976 bà Nghiêm khởi kiện chia thừa kế, Tòa án nhân nhân huyện Từ Liêm đã xét xử và quyết định: Chia cho bà Nghiêm 499 đồng, chia cho bà Nhung 499 đồng và chia cho bà Minh 500 đồng. Năm 1977, cụ Gái đã thanh toán đầy đủ cho bà Nghiêm cả 500 đồng để thi hành bản án của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm. Như vậy, bà Nghiêm đã nhận đầy đủ các quyền lợi về thừa kế đối với di sản của cụ Hồi và cụ Sâm.

Ngày 26/02/1984, cụ Gái họp gia đình có họ hàng chứng kiến và lập “Giấy chia nhà đất” để giao toàn bộ nhà đất cho bà Bé, vợ chồng bà Minh ông Thảo có mặt đã đồng ý ký vào văn bản này. Sau đó cụ Gái đã cho bà Minh 57m2 đất ruộng ở thửa đất khác. Nay bà Nghiêm không có quyền đòi hỏi gì về thừa kế nữa; bà Minh cũng không còn quyền lợi gì về thừa kế đối với di sản của cụ Hồi và cụ Sâm tại nhà đất này nữa.

* Anh Ngô Hồng Phong (con bà Bé) trình bày: anh đang ở cùng bà Bé tại nhà đang tranh chấp và vợ chồng anh có nhiều công sức đối với nhà đất này, cụ thể là năm 2009 chị Đặng Thị Đào (vợ anh) có đóng góp 10.000.000 đồng để xây nhà. Anh Phong đề nghị nhập chung quyền lợi của vợ chồng anh với cụ Gái và gia đình bà Bé; anh (Phong) không có yêu cầu gì khác.

* Bà Trần Thị Nhung và bà Trần Thị Minh là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trước đây ủy quyền cho chị Vũ Hải Lý trình bày: chị nhất trí với lời trình bày của bà Nghiêm và bà Bé về quan hệ gia đình và di sản. Chị Lý khẳng định: Bản án số 92 ngày 21/12/1976 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm chưa có hiệu lực pháp luật và chưa được thi hành vì bà Nhung đã chuyển vào Quảng Ngãi từ đầu năm 1976 và không biết gì về bản án nêu trên.

 Năm 1980 Phòng lao động, thương binh và xã hội  huyện Từ Liêm có đưa cho bà Nghiêm 50.000 đồng, bà Nghiêm thừa nhận có nhận khoản tiền này nhưng đây là khoản tiền hỗ trợ cho bà (Nghiêm) chứ không phải là tiền thi hành Bản án số 92 ngày 21/12/1976 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm.

Năm 1984, cụ Gái có cho bà Minh 57m2 đất ruộng để trồng rau; sau này bà Minh đã chuyển nhượng với giá 7.200.000 đồng; đây là đất ruộng nên không liên quan gì tới đất thổ cư và di sản của cụ Hồi, cụ Sâm để lại. Vì vậy, yêu cầu chia thừa kế của bà Nghiêm là đúng pháp luật. Bà Nhung và bà Minh cũng đề nghị được nhận thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Sâm, cụ Hồi và được nhận chung quyền lợi của bà Nghiêm.

Vụ án này đã có quá trình giải quyết như sau:

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 92/DS-ST ngày 21/12/1976 Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội quyết định:

Xác nhận toàn bộ khối tài sản nhà, đất tọa lạc tại thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội đã được UBND xã Phú Diễn chứng thực ngày 05/8/1976 là quyền sở hữu của bà Tạ Thị Gái, khối tài sản này chưa được chia cho con nào.

Khối tài sản trị giá bằng tiền là 5.000 đồng, trừ tiền sửa chữa nhà bếp là 1.500 đồng, còn tài sản thuộc thừa kế là 3.500 đồng.

Xét công lao duy trì tài sản nên chia cho bà Gái được 1.500 đồng, còn ông Hồi và bà Sâm mỗi người được 1.000 đồng.

Vì bà Sâm chết trước ông Hồi nên không được hưởng phần thừa kế tài sản của ông Hồi, nên phần 1.000 đồng đem chia cho bà Gái và 5 con thì mỗi người được 166 đồng, riêng bà Gái 170 đồng vì lẻ 04 đồng.

Phần của bà Sâm đem chia cho 3 con gái là bà Nhung, bà Minh và bà Nghiêm, mỗi người được 333 đồng, riêng bà Minh được 334 đồng vì lẻ 01 đồng, cụ Gái còn sống nên bà Nga và bà Bé chỉ được hưởng phần thừa kế của bố, mỗi người được 166 đồng.

Chia cho bà Nghiêm được hưởng phần tiền mặt là 499 đồng; chia cho bà Gái được hưởng toàn bộ tài sản và có quyền sở hữu, bà Gái có trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho các thừa kế khác là 1.830 đồng, cụ thể:

 - Bà Gái được hưởng phần của mình 1.500 đồng và phần của chồng (ông Hồi) là 170 đồng, tổng là 1.670 đồng; chị Nhung được hưởng phần của mẹ (bà Sâm) 333 đồng và phần của bố 166 đồng, tổng là 499 đồng; chị Minh được hưởng phần của mẹ (bà Sâm) 334 đồng và phần của bố 166 đồng, tổng là 500 đồng; chị Nghiêm được hưởng phần của mẹ (bà Sâm) 333 đồng và phần của bố là 166 đồng, tổng là 499 đồng; chị Nga được hưởng phần của bố là 166 đồng; chị Bé được hưởng phần của bố là 166 đồng.

Chấp nhận sự thỏa thuận của các chị Nhung, Minh, Nga, Bé là để cho bà Gái sở hữu tài sản này, riêng chị Nghiêm không còn hưởng gì ở tài sản này nữa.

Ngày 24/12/2004, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm tống đạt bản án sơ thẩm cho các đương sự là bà Trần Thị Nhung, bà Trần Thị Minh, bà Trần Thị Nga, bà Trần Thị Bé. Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, ngày 29/12/2004, bà Nhung đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại bản án dân sự phúc thẩm số 129/2005/DS-PT ngày 29/6/2005, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Nhung, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 92 ngày 21/12/1976 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm; giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm để giải quyết theo quy định của pháp luật. Lý do hủy án là do cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, không tiến hành các thủ tục tố tụng đối với bà Nhung mặc dù có đưa bà Nhung tham gia tố tụng.

Tòa án nhân huyện Từ Liêm đã thụ lý sơ thẩm lại vụ án (lần hai), hồ sơ thụ lý số 81/2005/TLST-DS ngày 23/8/2005. Do chị Đặng Thị Đào (con dâu bà Bé) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài (Trung Quốc) nên Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm đã Quyết định số 08/2009/QĐ-ST ngày 27/8/2009 chuyển hồ sơ để Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 72/2010/DS-ST ngày 20/12/2010, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của bà Trần Thị Nghiêm đối với di sản của cụ Nguyễn Thị Sâm và cụ Trần Văn Hồi.

1.1. Xác nhận khối tài sản là nhà ở và các công trình xây dựng trên diện tích 351m2 đất, tại thửa số 71- tờ bản đồ số 4 thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội có tổng trị giá là 2.959.314.420 đồng; trong đó: - công sức xây dựng của cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) là 502.314.420 đồng.

- Công sức chăm nom, quản lý của cụ Gái và gia đình bà Bé đối với di sản (tương đương 10%) là 245.700.000 đồng.

- Tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Thị Sâm và cụ Trần Văn Hồi (sau khi đã trích công sức của cụ Gái và gia đình bà Bé về trông nom, quản lý di sản) là 2.211.300.000 đồng.

1.2. Chia di sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Thị Sâm và cụ Trần Văn Hồi có giá trị sử dụng là 2.211.300 đồng; cụ Sâm và cụ Hồi mỗi người được chia 1/2 giá trị tài sản chung vợ chồng là 1.105.650.000 đồng.

1.3. Xác nhận cụ Nguyễn Thị Sâm chết năm 1946, không để lại di chúc nên di sản của cụ Sâm được chia thừa kế theo pháp luật cho 04 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là cụ Trần Văn Hồi, bà Trần Thị Nhung, bà Trần Thị Minh, bà Trần Thị Nghiêm mỗi người được thừa kế 1.105.650.000đ x 1/4 = 276.412.500đ.

1.4. Chia tài sản chung của vợ chồng của cụ Trần Văn Hồi và cụ Tạ Thị Gái có giá trị là 1.382.062.500 đồng. Cụ Hồi được 691.020.000 đồng; cụ Gái được 691.042.500 đồng.

1.5. Xác nhận cụ Trần Văn Hồi chết năm 1952, không để lại di chúc nên di sản của cụ Hồi được chia cho 06 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là cụ Tạ Thị Gái, bà Trần Thị Nhung, bà Trần Thị Minh, bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nga, bà Trần Thị Bé mỗi người được thừa kế tài sản có giá trị là 691.020.000đ x 1/6 = 115.170.000 đồng.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nghiêm, bà Nhung, bà Minh về việc nhận chung tài sản thừa kế là (276.412.500đ + 115.170.000đ ) x 3 = 1.174.747.500 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Nga về việc nhường kỷ phần thừa kế của bà Nga cho bà Trần Thị Bé; Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Tạ Thị Gái và bà Trần Thị Bé về việc nhận chung tài sản nên cụ Gái và gia đình bà Bé được sở hữu tài sản có giá trị tổng cộng là 1.784.566.920 đồng; bao gồm: tài sản chung vợ chồng do cụ Gái được chia là 691.042.500 đồng; tài sản do cụ Gái được thừa kế của cụ Hồi là 115.170.000 đồng; tài sản do bà Nga được thừa kế của cụ Hồi và nhường kỷ phần cho bà Bé là 115.170.000 đồng; công sức xây dựng của gia đình bà Bé là 502.314.420 đồng và công sức quản lý di sản là 245.700.000 đồng.

3. Chia hiện vật nhà đất tại thửa số 71- tờ bản đồ số 4 thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội như sau:

3.1. Giao bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nhung và bà Trần Thị Minh sở hữu sử dụng chung: 01 nhà ở hai tầng (giá trị sử dụng 320.782.500 đồng trên diện tích 144,72m2 (giá trị sử dụng là 1.013.040.000 đồng); tổng cộng là 1.333.822.500 đồng; ranh giới nhà, đất được xác định (theo các điểm 8, 9, 19, 11, 12, 13, 14, 16, 17, 20, 8) tại sơ đồ kèm theo bản án.

3.2. Giao cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (bao gồm các thành viên là bà Trần Thị Bé, ông Ngô Quang Bình, anh Ngô Hồng Phong, anh Ngô Phi Long, chị Đặng Thị Đào và chị Ngô Huyền Giang) sở hữu, sử dụng chung toàn bộ các công trình xây dựng còn lại trên diện tích 206m2 của thửa đất, có giá trị sử dụng tổng cộng là 2.959.314.420đ - 1.333.822.500đ = 1.625.491.920đ; Ranh giới nhà, đất được xác định (theo các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 20, 17, 18, 19, 1) tại sơ đồ kèm theo bản án.

3.3. Buộc bà Minh, bà Nhung và bà Nghiêm mỗi người phải thanh toán giá trị tài sản chênh lệch cho cụ Gái và gia đình bà Bé (do bà Bé đại diện) số tiền là 53.025.000 đồng, ba người phải thanh toán tổng cộng 159.075.000 đồng.

4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Bé (tức Nhi) đối với bà Trần Thị Nhung về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc bà Nhung phải thanh toán trả bà Bé số tiền gốc vay ngày 08/01/1997 là 5.000.000 đồng, lãi suất trong kỳ hạn là 507.500 đồng và lãi suất nợ quá hạn là 17.443.500 đồng; tổng cộng là 22.951.000 đồng.

5. Về án phí: miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bà Nghiêm;

Miễn giảm 1/2 án phí dân sự sơ thẩm cho bà Minh và bà Nhung: bà Minh phải nộp 3.347.5000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; bà Nhung phải nộp 2.921.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Cụ Gái phải nộp 12.610.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Bà Bé (tức Nhi) phải nộp 2.762.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Được trừ  250.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lại số NO 18434 ngày 31/7/2009 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Từ Liêm. Bà Bé còn phải nộp tiếp 2.512.000 đồng án phí sơ thẩm.

Không nhất trí với bản án sơ thẩm, ngày 30/12/2010 bà Nghiêm, bà Minh, bà Nhung kháng cáo không chấp nhận tính công sức xây dựng và trông nom quản lý di sản cho cụ Gái và gia đình bà Bé; cụ Tạ Thị Gái (bị đơn) cũng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại bản án dân sự phúc thẩm số 121/2011/DS-PT ngày 05/7/2011, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã có những nhận định: vụ án này thuộc trường hợp đặc biệt, vụ án được Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử sơ thẩm từ ngày 21/12/1976 nhưng ngày 24/12/2004 Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm mới tống đạt bản án cho các đương sự. Mặc dù Bản án số 92 ngày 21/12/21976 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hủy về mặt tố tụng nhưng cần xác định từ các tình tiết chứng cứ có liên quan mới đảm bảo giải quyết vụ án được công bằng khi xét xử lại; về vấn đề liệu bà Nghiêm có được cụ Gái trả 500 đồng thừa ra 01 đồng so với quyết định của bản án sơ thẩm năm 1976 hay không, lưu ý tình tiết bà Nghiêm khai năm 1980 Phòng thương binh xã hội huyện Từ Liêm gọi bà lên nhận 50.000 đồng nói là tiền cụ Gái đưa để bà khỏi quấy nhiễu có đúng sự thật không cũng cần được làm rõ. Cần tìm ra sự thật khách quan xem bà Nghiêm đã nhận hay chưa nhận tiền, có nhận 250 đồng hay 500 đồng. Nếu nhận 500 đồng thì coi như kỷ phần của bản án sơ thẩm đã thanh toán xong. Nếu bà Bé trả 250 đồng thì coi như thi hành xong một nửa.

Về giấy chia đất ngày 26/2/1984 (BL34) có nội dung: toàn bộ gia tộc nhất trí chia toàn bộ nhà đất cho bà Bé sử dụng, thành phần có vợ chồng bà Minh, ông Thảo có ký vào giấy này. Đây là sự tự nguyên thỏa thuận, bà Minh xác nhận đúng chữ ký của bà nhưng cấp sơ thẩm lại nhận định nay bà Minh không đồng ý cho kỷ phần thừa kế nữa nên không chấp nhận quan điểm của bà Bé về việc bà Minh có nhường kỷ phần thừa kế cho bà Bé bằng giấy trắng mực đen rõ ràng, cụ thể, chính xác... Không vì bất cứ lý do gì mà bà Minh có quyền xóa bỏ văn bản đã tự nguyện ký ngày 26/2/1984. Cấp sơ thẩm không chấp nhận chứng cứ hợp pháp của bà Bé nêu ra là không phù hợp với quy định của pháp luật làm thiệt hại đến quyền lợi chính đáng hợp pháp của đương sự.

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội chấp nhận chia di sản thừa kế của cụ Hồi, cụ Sâm là đúng, tính công sức xây dựng của cụ Gái, bà Bé đồng thời trích công sức trông nom quản lý di sản cho cụ Gái và bà Bé được hưởng bằng 10% giá trị di sản là có căn cứ; vì vậy kháng cáo của bà Nghiêm không được chấp nhận.

Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xác định do việc chứng minh và thu thập chứng cứ tại cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên đã quyết định:

1. Hủy phần “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn bà Trần Thị Nghiêm, bị đơn cụ Tạ Thị Gái của Bản án số 72/2010/DS-ST ngày 20/12/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm các bên đương sự (cả nguyên đơn và bị đơn) đều không phải nộp đối với phần tranh chấp thừa kế tài sản.

2. Án phí dân sự sơ thẩm đối với hợp đồng vay tài sản: bà Trần Thị Nhung phải nộp 574.000 đồng.

Các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm liên quan đến hợp đồng vay tài sản giữa bà Bé với bà Nhung được giữ nguyên và có hiệu lực pháp luật tính từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Sau khi TANDTC hủy một phần Bản án sơ thẩm số 72/2010/DSST ngày 20/12/2010 của TAND thành phố Hà Nội để Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết lại, quá trình Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án về tranh chấp thừa kế tài sản, các bên đương sự có ý kiến như sau:

* Nguyên đơn bà Nghiêm, người liên quan bà Nhung vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trước đây về yêu cầu chia thừa kế, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Minh (gồm ông Thảo, chị Lý, anh Thông, anh Toàn, anh Thắng) vẫn giữ nguyên các ý kiến của bà Minh đã trình bày trước đây về yêu cầu chia thừa kế và xác nhận bà Minh, ông Thảo có ký tên trong giấy chia nhà đất năm 1984. Nay bà Nghiêm, bà Nhung, những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Minh xin chia hưởng thừa kế bằng hiện vật chung với nhau vào một khối; ông Thảo, chị Lý, anh Thông, anh Toàn, anh Thắng xin giải quyết và xét xử vắng mặt.

* Bà Nghiêm trình bày: năm 1976 không có việc xét xử nào của Tòa án và chưa bao giờ bà được nhận tài sản gì từ việc chia nhà đất. Đối với giấy nhận tiền lập ngày 23/7/2003 có xác nhận của ông Trần Đức Chính thì bà khẳng định là không có việc bà và bà Bé sang nhà ông Chính nhờ ông Chính xác nhận vào giấy nhận tiền do bà Bé viết, bà chưa hề nhận bất kỳ một khoản tiền nào từ cụ Gái thanh toán kỷ phần thừa kế và năm 1980 Phòng Thương binh xã hội huyện Từ Liêm có trợ cấp cho bà 50.000 đồng vì bà là người tàn tật. Nay nhà đất đã được định giá ngày 01/01/2014 nên bà đề nghị chia thừa kế theo định giá năm 2014 và nếu được hưởng nhà đất thì không đồng ý thanh toán giá trị xây dựng trên đất cho gia đình bà Bé và cụ Gái.

* Bị đơn do bà Bé đại diện trình bày: cụ Gái và gia đình bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn vì năm 1976 Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm đã xét xử vụ án do bà Nghiêm khởi kiện, sau đó cụ Gái và gia đình bà đã thi hành án trả cho bà Nghiêm xong kỷ phần theo án tuyên. Khi nộp tiền có biên lai nhưng đến nay đã thất lạc không còn để nộp cho Tòa án.

Đối với kỷ phần thừa kế của bà Minh và bà Nhung thì tại thời điểm Tòa án xét xử bà Minh và bà Nhung không yêu cầu cụ Gái thanh toán nên cụ Gái chưa thanh toán cho bà Nhung và bà Minh nhưng đến ngày 26/2/1984 bà Trần Thị Minh ký giấy chia nhà đất có đông đủ họ hàng chứng kiến, theo giấy này thì bà Minh đã tự nguyện nhường bà Bé được hưởng toàn bộ nhà đất để ở và thờ cúng tổ tiên không yêu cầu một điều kiện gì, sau đó cụ Tạ Thị Gái đã cho bà Trần Thị Minh 72m2 đất ruộng thuộc thửa đất số 73 tờ bản đồ số 09 thôn Phú Diễn - xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội vì lý do bà Minh không lấy nhà đất tại xóm Đầu Làng. Như vậy, phần bà Minh được hưởng thừa kế phải thuộc về bà Bé theo sự tự nguyện của bà Minh từ năm 1984, nay không thể giao phần đó cho những người thừa kế của bà Minh.

Đối với kỷ phần thừa kế của bà Nhung do trước đây bà Nhung đồng ý trừ vào nợ nay bà Nhung lại không đồng ý trừ nợ thì coi như bà Nhung chưa được hưởng, do vậy đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Năm 1998 bà Bé kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Nghiêm, bà Nhung, bà Minh đều biết, Uỷ ban nhân dân huyện đã làm xong thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà Bé cùng đợt của xã giao vào năm 2001, sau đó do có khiếu nại nên gia đình bà chưa được cấp giấy chứng nhận.

Nay bà Bé vẫn nhận sự ủy quyền của cụ Gái, ông Bình, anh Long, anh Phong, chị Đào, chị Giang, bà Nga và đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho gia đình bà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm nay là UBND quận Bắc Từ Liêm (do ông Nguyễn Văn Biên - Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng tài nguyên và Môi trường quận Bắc Từ Liêm đại diện theo ủy quyền) trình bày ý kiến tại Công văn số 105/VPĐKQSDĐ ngày 28/4/2014 nội dung: “về nguồn gốc và trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất liên quan đến vụ án trên chúng tôi giữ nguyên quan điểm như Công văn số 2237/VPĐKQSDĐ ngày 14/12/2011 mà Văn phòng đăng ký Đất và Nhà huyện Từ Liêm (thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân huyện Từ Liêm) đã cung cấp cho quý tòa”. Theo Công văn số 2237/VPĐKQSDĐ ngày 14/12/2011 của Văn phòng đăng ký Đất và Nhà huyện Từ Liêm trả lời Tòa án có nội dung xác nhận:“Về nguồn gốc sử dụng thửa đất số 71 tờ bản đồ số 04 năm 1994 tương ứng với bản đồ 1960, bản đồ 1987 xã Phú Diễn".

Theo bản đồ năm 1960 và sổ mục kê đi kèm: thuộc thửa đất số 109, tờ bản đồ số 05, diện tích 333m2, loại đất (T), chủ sử dụng là bà Tạ Thị Gái.

Theo bản đồ năm 1987 thuộc thửa đất số 138, tờ bản đồ số 03, diện tích 311m2, sổ mục kê không lưu tại huyện.

Theo bản đồ năm 1994: thửa đất số 71, tờ bản đồ số 04, diện tích 340,5m2, sổ mục kê không lưu tại huyện.

- Về trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: hộ gia đình bà Trần Thị Bé tại thời điểm cấp giấy chứng nhận đã được UBND huyện Từ Liêm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ 00331/QSDĐ tại quyết định số 1741/QĐ-UB ngày 24/12/2001, thửa đất số 71, tờ bản đồ số 04, diện tích 340m2 đất ở, hạn sử dụng lâu dài tại xã Phú Diễn... UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Bé là đúng quy định...”

Đại diện Ủy ban nhân dân quận Bắc Từ Liêm xin vắng mặt tại phiên tòa.

Quá trình thụ lý giải quyết lại vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, xem xét thẩm định, định giá lại tài sản theo giá thị trường. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản ngày 09/01/2014 các bên nhất trí xác nhận về hiện trạng tài sản, số đo diện tích các phần nhà đất, tổng diện tích đất là 351m2, nhà 01 tầng xây dựng trên diện tích đất 72,2m2 và xác nhận theo số đo thực tế hiện trạng nhà đất theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất do Công ty TNHH nhà nước một thành viên địa chính Hà Nội đo vẽ ngày 08/6/2009 (có sơ đồ kèm theo). Tại biên bản định giá ngày 09/01/2014, Hội đồng định giá xác định giá trị tài sản như sau: phần công trình xây dựng trên đất (nhà 02 tầng) có trị giá 391.627.600 đồng; 01 nhà mái bằng bê tông cốt thép 01 tầng trị giá 259.653.600 đồng; tường rào trị giá 14.604.480 đồng; giếng khoan 2.457.000 đồng. Giá trị quyền sử dụng đất là 15.000.000 đồng/1m2 x 351m2 = 5.265.000.000 đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản là quyền sử dụng đất và công trình xây dựng, tài sản gắn liền trên đất tranh chấp bằng 5.933.342.680 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Nguyên đơn bà Trần Thị Nghiêm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, bà khẳng định cho đến nay chưa được gia đình bà Bé và cụ Gái thanh toán một đồng nào về phân chia di sản của bố mẹ bà; về phần thừa kế của bà Minh, do chồng con bà Minh ủy nhiệm cho bà và bà Nhung giải quyết thì đề nghị chia bằng hiện vật chung với bà và bà Nhung. Bà không nhất trí thanh toán giá trị xây dựng trên đất cho bà Bé.

* Bị đơn do bà Trần Thị Bé (tức Nhi) đại diện xuất trình đơn xin miễn giảm án phí của cụ Gái và sơ đồ nhà 01 tầng (do chồng bà Bé là ông Ngô Quang Bình cùng bà Bé lập ngày 28/4/2014), bà Bé vẫn khẳng định sau khi Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử năm 1976 thì gia đình bà đã thanh toán cho bà Nghiêm toàn bộ giá trị phần thừa kế bà Nghiêm được chia là 500 đồng thừa ra 01 đồng so với án tuyên. Việc thanh toán trên có biên lai nhưng do lâu ngày nên thất lạc không tìm lại được. Sau đó đến năm 2003 do bà Minh và bà Nhung kiện gia đình bà ở xã nên bà đã cùng bà Nghiêm đến nhờ ông Chính (Trưởng họ) xác nhận vào giấy do bà Bé viết về việc bà đã thanh toán cho bà Nghiêm nhận xong kỷ phần thừa kế theo án xử năm 1977 nhưng do lâu năm, bà nhớ không chính xác số tiền theo bản án nên đã ghi là 250 đồng. Về phần của bà Minh thì bà Minh đã ký nhận cho hẳn bà từ năm 1984 có họ hàng chứng kiến và có cả ông Thảo chồng bà Minh cùng ký xác nhận, sau đó bà Minh được cụ Gái cho đất ruộng ở chỗ khác nên bà Minh không được đòi phần thừa kế nữa. Về yêu cầu của bà Nhung theo bà thì do bà Nhung đã đi theo chồng ở Quảng Ngãi từ năm 1961 đến nay không quay về nhà của bố mẹ ở một ngày nào để thực hiện nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên và mặt khác khi có khó khăn thì gia đình bà (Bé) đều giúp đỡ bằng tiền mặt và không lấy lại coi như tính trừ vào thanh toán di sản do bà Nhung nên xét về tình cảm thì bà và gia đình đã thanh toán hết phần thừa kế cho các chị gái nhưng theo pháp luật xác định bà Nhung chưa được nhận phần thừa kế thì nay bà Bé đề xuất sẽ chia cho bà Nhung bằng hiện vật vào phần nhà mái bằng 01 tầng do gia đình bà xây dựng năm 2009 giáp ngõ đi để bà Nhung về ở và thờ cúng tổ tiên vì bà Nhung là chị gái lớn nhất trong gia đình, bà Nhung sẽ phải thanh toán giá trị xây dựng nhà trả cho gia đình bà (Bé) theo giá đã được định giá ngày 09/01/2014.

Bà Bé còn trình bày trên đất tranh chấp còn có phần khung sắt mái tôn trên lối ngõ đi giáp nhà 01 tầng, khung sắt mái tôn trước cửa gian bếp và vệ sinh của nhà 01 tầng và 01 cổng sắt 04 cánh do gia đình bà làm từ khi làm nhà 01 tầng năm 2009, trước bà không yêu cầu xem xét định giá, nay bà không yêu cầu tính giá trị phần tài sản đó. Ngoài ra hiện nhà 01 tầng còn có 01 cửa ra vào và 03 cửa sổ quay sang hướng sân của nhà 02 tầng, phía trên các cửa đó đều có ô văng che như thể hiện tại sơ đồ nhà tầng 01 mà chồng bà là ông Ngô Quang Bình cùng bà đã lập ngày 28/4/2014 đã xuất trình thì đề nghị Tòa án xem xét cho rõ hơn khi phân chia nhà đất.

Nếu Tòa chia cho các thừa kế bằng hiện vật thì đề nghị chia cho cụ Gái và gia đình bà vào phần nhà 02 tầng, chia cho các thừa kế khác vào nhà 01 tầng, bà Bé nhất trí để lối ngõ đi hiện nay có phần mái tôn trên lối đi và cổng sắt 04 cánh cho các thừa kế được giao nhà đất sử dụng chung làm lối đi ra đường của xóm và chỉ tính trị giá đất làm ngõ đi chung, không yêu cầu phải tính giá trị mái tôn và cổng sắt 04 cánh và đoạn tường bao trên phần diện tích đất làm ngõ đi chung. Ngoài ra bà Bé còn đề nghị tính công sức tôn tạo trông nom duy trì di sản cho cụ Gái và gia đình bà chung với nhau và phải tính nhiều hơn mức sơ thẩm năm 2010 đã tính và tính chung vào di sản mà cụ Gái và bà cùng bà Nga được chia hưởng. Bà Bé đề nghị Hội đồng xét xử miễn giảm án phí cho cụ Gái theo đơn ngày 07/4/2014 có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Phú Diễn mà bà đã nộp tại phiên tòa.

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Nhung xác nhận về tiền bà vay của bà Bé thì bà có trách nhiệm trả theo bản án có hiệu lực pháp luật, còn về di sản thừa kế của bố mẹ bà thì bà chưa được nhận đồng nào, nay xin được chia hưởng bằng hiện vật; việc chồng con bà Minh ủy nhiệm cho bà và bà Nghiêm giải quyết vụ án có liên quan quyền thừa kế của bà Minh thì đề nghị Tòa xét theo pháp luật; việc cụ Gái cho bà Minh đất ruộng không phải là chia thừa kế vì đất đó không phải là di sản, nếu bà Minh được chia thừa kế thì đề nghị chia chung bằng hiện vật cho bà và bà Nghiêm vào cùng 01 khối để thuận tiện cho việc sử dụng.

Tại bản án số 32/2014/DS-ST ngày 05/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, quyết định:

- Áp dụng khoản 5 Điều 25; khoản 2 và khoản 5 Điều 131; các Điều 202, 238, 243 và 245 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 167, 219, 271, 633, 634, 635, 645, 675, 676, 733, 734; khoản 2 Điều 685 và khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Áp dụng Điều 9 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

- Áp dụng các Điều 15 và 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959;

- Áp dụng Điều 50; Điều 136 Luật đất đai;

- Áp dụng khoản 5 Điều 11; Điều 13 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án; áp dụng điểm e khoản 2 Điều 7; khoản 1 Điều 11 và khoản 3 Điều 13 Nghị định 70/CP của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án ngày 12/6/1997; Xử:

1. Xác định khối tài sản là nhà ở, các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở trên diện tích đất 351m2 (đo thực tế) tại thửa đất số 71, tờ bản đồ số 4 thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội) có tổng trị giá là 5.933.342.680 (năm tỷ chín trăm ba mươi ba triệu) đồng; trong đó giá trị các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở của cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) là 668.342.680 (sáu trăm sáu mươi tám triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm tám mươi) đồng; công sức trông nom, quản lý duy trì di sản của cụ Gái và gia đình bà Bé (tương đương 10%) là 526.500.000 (năm trăm hai mươi sáu triệu năm trăm ngàn) đồng; tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Thị Sâm và cụ Trần Văn Hồi sau khi đã trích công sức cho cụ Gái và gia đình bà Bé về trông nom, quản lý duy trì thì di sản còn là 4.738.500.000 (bốn tỷ bảy trăm ba mươi tám triệu năm trăm ngàn) đồng.

2. Xác định sau khi chia tài sản chung vợ chồng cụ Nguyễn Thị Sâm, cụ Trần Văn Hồi, chia thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thị Sâm theo pháp luật; chia tài sản chung của vợ chồng cụ Trần Văn hồi và cụ Tạ Thị Gái, chia thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi theo pháp luật thì phần tài sản các đương sự được hưởng có giá trị bằng tiền như sau:

- Bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nhung, bà Trần Thị Minh mỗi người được chia 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thị Sâm là 592.312.500 (năm trăm chín mươi hai triệu ba trăm mười hai ngàn năm trăm) đồng; 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi là 246.796.875 (hai trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi lăm) đồng; tổng cộng mỗi bà được chia hưởng 01 suất thừa kế di sản của cụ Sâm và cụ Hồi có trị giá bằng tiền là 839.109.375 (tám trăm ba mươi chín triệu một trăm linh chín ngàn ba trăm bảy lăm) đồng. Trong đó xác định bà Trần Thị Nghiêm đã nhận một nửa suất thừa kế đối với di sản của cụ Sâm và cụ Hồi do cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) thanh toán nay chỉ còn được chia hưởng một nửa suất thừa kế là 419.554.687,5 (bốn trăm mười chín triệu năm trăm năm mươi tư ngàn sáu trăm tám mươi bảy phẩy năm) đồng; xác định bà Trần Thị Minh được chia hưởng 01 suất  thừa kế đối với di sản của cụ Sâm và cụ Hồi nhưng đã tự nguyện nhường cho bà Trần Thị Bé từ năm 1984 nên suất thừa kế phần của bà Minh thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Bé. Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị Minh gồm ông Đặng Trần Thảo, chị Đặng Thị Lý, anh Đặng Trần Toàn, anh Đặng Trần Thắng, anh Đặng Trần Thông nay không được nhận thừa kế phần bà Trần Thị Minh đối với di sản của cụ Sâm và cụ Hồi.

- Cụ Tạ Thị Gái được chia 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi là 246.796.875 (hai trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi lăm) đồng và được hưởng 1/2 giá trị tài sản chung vợ chồng của cụ Hồi và cụ Gái là 1.480.781.250 (một tỷ bốn trăm tám mươi triệu bảy trăm tám mốt ngàn hai trăm năm mươi) đồng. Tổng cộng tài sản cụ Gái được hưởng có giá trị bằng tiền là 1.727.578.125 (một tỷ bảy trăm hai bảy triệu năm trăm bảy tám ngàn một trăm hai nhăm) đồng (chưa bao gồm phần cụ Gái được hưởng chung trong giá trị các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở của cụ Gái và gia đình bà Bé cùng công sức trông nom, quản lý duy trì di sản của cụ Gái và gia đình bà Bé).

- Bà Trần Thị Bé (tức Nhi) và bà Trần Thị Nga mỗi người được chia 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi là 246.796.875 (hai trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi lăm) đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nga nhường kỷ phần thừa kế cho bà Bé nên suất thừa kế phần của bà Nga thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Bé. Như vậy phần tài sản mà bà Trần Thị Bé được nhận từ việc chia di sản của cụ Sâm và cụ Hồi có trị giá tổng cộng bằng tiền là 1.332.564.351 (một tỷ ba trăm ba mươi hai triệu năm trăm sáu mươi tư ngàn ba trăm năm mốt) đồng (chưa bao gồm phần bà Bé được hưởng chung trong giá trị các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở của cụ Gái và gia đình bà Bé cùng công sức trông nom, quản lý duy trì di sản).

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nhung về việc nhận chung tài sản thừa kế; bà Nhung và bà Nghiêm được sở hữu chung tài sản thừa kế có giá trị tổng cộng là 1.258.664.063 đồng (trong đó bà Nghiêm được sở hữu trị giá 1/3 tài sản, bà Nhung được sở hữu trị giá 2/3 tài sản).

Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Tạ Thị Gái và bà Trần Thị Bé đại diện cho gia đình bà Bé về việc nhận chung tài sản nên cụ Gái và gia đình bà Bé được sở hữu tài sản có giá trị tổng cộng là 4.674.678.617 (bốn tỷ sáu trăm bảy mươi tư triệu sáu trăm bảy mươi tám ngàn sáu trăm mười bảy) đồng (đã bao gồm cả giá trị các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở của cụ Gái và gia đình bà Bé cùng công sức trông nom, quản lý duy trì di sản của cụ Gái và gia đình bà Bé).

3. Về hiện vật nhà đất tại thửa đất số 71- tờ bản đồ số 4 thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) được phân chia như sau (có sơ đồ kèm theo):

- Dành một phần diện tích đất làm ngõ đi chung cho cụ Tạ Thị Gái, gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi), bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nhung có kích thước là 1,95m x 7,23m = 14,0985m2, có giá trị là 211.477.500 đồng. Ranh giới ngõ đi chung được xác định tại sơ đồ kèm theo bản án (được giới hạn bởi các điểm 18, 19, C, D, 18). Các bên gồm: bên cụ Gái, gia đình bà Bé và bên bà Nghiêm, bà Nhung được quyền sử dụng ngõ đi chung và mỗi bên phải chịu trị giá 1/2 ngõ đi chung bằng 105.738.750 (một trăm linh năm triệu bảy trăm ba mươi tám ngàn bảy trăm năm mươi) đồng tính vào giá trị di sản được chia hưởng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Bé (tức Nhi) đại diện cho gia đình bà Bé không yêu cầu tính giá trị khung sắt mái tôn, 01 cổng sắt 04 cánh và đoạn tường bao trên phần diện tích đất làm ngõ đi chung.

Các bên được sử dụng ngõ đi chung có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích làm lối đi từ phần nhà đất được giao ra đến đường công cộng của xóm, không ai được cản trở việc sử dụng ngõ đi chung nêu trên.

- Giao bà Trần Thị Nghiêm và bà Trần Thị Nhung được quyền sở hữu, sử dụng chung hiện vật tài sản gồm: 01 nhà ở 01 tầng trên khuôn viên đất có diện tích 72,2m2 có tổng trị giá nhà và quyền sử dụng đất là 1.342.653.600 (một tỷ ba trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm) đồng (trong đó giá trị nhà 01 tầng là 259.653.600 (hai trăm năm mươi chín triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm) đồng, giá trị quyền sử dụng đất là 72,2m2 là 1.083.000.000 (một tỷ không trăm tám mươi ba triệu) đồng; ranh giới nhà, đất được xác định tại sơ đồ kèm theo bản án (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, A, B, C, 19, 1). Trong đó phần của bà Nghiêm được sở hữu, sử dụng là 1/3, phần của bà Nhung được sở hữu sử dụng là 2/3 trị giá tài sản được giao.

Bà Trần Thị Nghiêm và bà Trần Thị Nhung được quyền sở hữu, sử dụng chung nhà, đất được giao nêu trên có trách nhiệm bịt các cửa sổ và cửa ra vào của ngôi nhà 01 tầng hiện đang mở quay sang hướng tiếp giáp đất giao cho cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé và phải dỡ bỏ phần ô văng che trên các cửa đó đảm bảo việc sử dụng nhà đất theo đúng ranh giới khuôn viên đất được giao chiếu thẳng đứng từ mặt đất lên các ô văng che trên các cửa sổ và cửa ra vào nêu trên.

- Buộc bà Trần Thị Nghiêm và bà Trần Thị Nhung phải thanh toán giá trị tài sản chênh lệch cho cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé số tiền là 189.728.200 đồng. Trong đó, bà Nghiêm phải thanh toán 1/3 số tiền chênh lệch là 63.242.700 (sáu mươi ba triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn bảy trăm) đồng. Bà Nhung phải thanh toán 2/3 số tiền chênh lệch là 126.485.500 (một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi lăm ngàn năm trăm) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Giao cho cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) bao gồm các thành viên: bà Trần Thị Bé, ông Ngô Quang Bình, anh Ngô Hồng Phong, anh Ngô Phi Long, chị Đặng Thị Đào, chị Ngô Huyền Giang được quyền sở hữu, sử dụng chung hiện vật tài sản gồm nhà ở, toàn bộ các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với diện tích đất còn lại là 264,7015m2 có tổng giá trị là 4.379.211.580 (bốn tỷ ba trăm bảy mươi chín triệu hai trăm mười một ngàn năm trăm tám mươi) đồng. (gồm có 01 nhà 02 tầng trị giá 391.627.600(ba trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm) đồng; tường rào trị giá 14.604.480 (mười bốn triệu sáu trăm linh bốn ngàn bốn trăm tám mươi) đồng; 01 giếng khoan trị giá 2.457.000 (hai triệu bốn trăm năm mươi bảy ngàn) đồng; quyền sử dụng đất 264,7015m2 là 3.970.522.500 (ba tỷ chín trăm bảy mươi triệu năm trăm hai mươi hai ngàn năm trăm) đồng; ranh giới nhà, đất được xác định tại sơ đồ kèm theo bản án (được giới hạn bởi các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, D, C, B, A, 2).

Cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) do bà Bé đại diện được nhận số tiền chênh lệch về tài sản do bà Nghiêm và bà Nhung thanh toán tổng cộng là 189.728.200 (một trăm tám mươi chín triệu bảy trăm hai mươi tám ngàn hai trăm) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền và nghĩa vụ đăng ký kê khai quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở được phân chia theo bản án tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật về nhà ở và đất đai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00331/QSDĐ tại Quyết định số 1741/QĐ-UB ngày 24/12/2001 do UBND huyện Từ Liêm - thành phố Hà Nội đã cấp đứng tên chủ sử dụng đất là hộ gia đình bà Trần Thị Bé không còn giá trị pháp lý.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

4. Về án phí:

- Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bà Trần Thị Nghiêm, bà Nghiêm không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;

- Miễn giảm 1/2 án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị Nhung; bà Nhung còn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.571.100 đồng.

- Miễn giảm 1/2 án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Tạ Thị Gái, cụ Gái còn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.109.700 đồng.

- Bà Trần Thị Bé (tức Trần Thị Nhi) phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 9.748.700 đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/5/2014 nguyên đơn là bà Trần Thị Nghiêm có đơn kháng cáo  yêu cầu được nhận đủ một suất thừa kế và không chấp nhận thanh toán giá trị tài sản trên đất cho cụ Gái và gia đình bà Bé.

Ngày 19/5/2014 bị đơn là cụ Tạ Thị Gái có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý chia đất cho bà Nghiêm vì đã thanh toán kỷ phần thừa kế cho bà Nghiêm ngay sau khi Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xét xử.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị Bé là người đại diện do cụ Tạ Thị Gái ủy quyền đã rút toàn bộ kháng cáo và đề nghị gia đình bà tự nguyện chia cho bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nhung 61m2 đất còn trống chưa xây dựng nằm trong khuôn viên thửa đất cụ Hồi để lại để bà Nghiêm, bà Nhung không phải thanh toán chênh lệch tài sản; bà Trần Thị Nghiêm và bà Trần Thị Nhung vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo không chấp nhận thanh toán tiền chênh lệch cho cụ Gái và gia đình bà Bé; bà Nghiêm còn đề nghị được hưởng cả suất thừa kế và hai bà không chấp nhận đề nghị của bà Trần Thị Bé tại phiên tòa hôm nay về việc chia cho hai bà phần đất trống;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: vụ án phức tạp, kéo dài đã được Tòa án cấp sơ thẩm Hà Nội phân chia thừa kế như vậy cơ bản là đúng quy định của pháp luật và đã đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Kháng cáo và đề nghị của bà Trần Thị Nghiêm, Trần Thị Nhung không chấp nhận thanh toán tiền chênh lệch và thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bị đơn và người có quyền lợi liên quan là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bà Trần Thị Nghiêm, Trần Thị Nhung, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, đơn kháng cáo; qua nghe các bên đương sự trình bày và tranh luận công khai tại phiên tòa; sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử phúc thẩm.

XÉT THẤY:

Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị Bé là người đại diện do cụ Tạ Thị Gái ủy quyền đã tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của cụ Tạ Thị Gái do bà Trần Thị Bé đại diện.

Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời thừa nhận của các đương sự thì có đủ cơ sở khẳng định đương thời cụ  Trần Văn Hồi có 02 đời vợ là cụ Nguyễn Thị Sâm và cụ Tạ Thị Gái; cụ Hồi và cụ Sâm có 03 người con chung là Trần Thị Nhung, Trần Thị Minh và Trần Thị Nghiêm; cụ Hồi và cụ Gái có 02 người con chung là Trần Thị Nga và Trần Thị Bé (tức Nhi);  Cụ Sâm chết năm 1946, cụ Hồi chết năm 1952 đều không để lại di chúc; về tài sản các cụ có 01 ngôi nhà xây gạch lợp ngói, 01 bếp đun xây gạch lợp ngói và 01 bể nước trên thửa đất 01 sào tọa lạc tại xóm Đầu Làng, thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội (nay thuộc phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm). Sau khi cụ Trần Văn Hồi chết thì cụ Tạ Thị Gái quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản nhà đất. Trong quá trình quản lý sử dụng do nhà xuống cấp nên cụ Gái và vợ chồng bà Trần Thị Bé đã phá dỡ toàn bộ nhà, công trình phụ cũ và xây dựng lại nhà như hiện trạng hiện nay. Theo biên bản thẩm định, định giá tài sản ngày 09/01/2014 của Tòa án cấp sơ thẩm thì:

1. Đất ở diện tích 351m2 x 15000.000 đ/m2 = 5.265.000.000 đồng;

2. Nhà 02 tầng có trị giá                               =   391.627.600 đồng;

3. Nhà mái bằng bê tông cốt thép 01 tầng    =   259.653.600 đồng;

4. Tường rào trị giá                                       =     14.604.480 đồng;

5. Giếng khoan trị giá                                   =      2.457.000 đồng.

Tổng cộng:                                                    = 5.933.342.680 đồng.

Trong đó di sản thừa kế là thửa đất trị giá 5.265.000.000 đồng; còn lại là tài sản do cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé tạo lập trị giá là 668.342.680 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ huyết thống, di sản thừa kế, thời điểm mở thừa kế, diện và hàng thừa kế mỗi lần mở thừa kế và chia thừa kế cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị Sâm và cụ Trần Văn Hồi gồm cụ Tạ Thị Gái và các con là Trần Thị Nghiêm, Trần Thị Nhung, Trần Thị Minh, Trần Thị Nga, Trần Thị Bé như vậy cơ bản là đúng quy định của pháp luật và đã đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đương sự và giải quyết chỗ ở như vậy là hợp lý. Tòa án cấp sơ thẩm cũng xem xét đánh giá việc bà Trần Thị Nghiêm đã nhận 250 đồng trị giá bằng 1/2 kỷ phần thừa kế theo Bản án của Tòa án nhân nhân huyện Từ Liêm xét xử năm 1996 nên nay bà Nghiêm chỉ được hưởng 1/2 suất thừa kế là có căn cứ; Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét xác định bà Trần Thị Minh đã được cụ Gái cho đất ruộng ở chỗ khác và bà làm giấy tự nguyện giao toàn bộ phần thừa kế của mình cho bà Trần Thị Bé nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Minh không được hưởng thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thị Sâm và cụ Trần Văn Hồi là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bà Trần Thị Bé đại diện do cụ Gái và đại diện các thành viên trong gia đình đã thể hiện thiện chí là chia phần đất trống chưa xây dựng cho bà Nghiêm, bà Nhung để các bà không phải thanh toán chênh lệch tài sản để vụ án sớm được giải quyết dứt điểm nhưng phía bà Trần Thị Nghiêm và Trần Thị Nhung không chấp nhận thiện chí này nên ý kiến đề nghị của bà Trần Thị Bé không được chấp nhận.

Xét kháng cáo của bà Trần Thị Nghiêm yêu cầu được hưởng cả suất thừa kế như các đồng thừa kế khác. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: vụ án rất phức tạp và kéo dài, đã được Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xét xử từ năm 1976, theo bị đơn thì Tòa án đã chia thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi và cụ Trần Thị Sâm theo pháp luật cho những người thừa kế là cụ Tạ Thị Gái cùng các con là Trần Thị Nhung, Trần Thị Nghiêm, Trần Thị Minh, Trần Thị Nga và Trần Thị Bé, lúc đó kỷ phần của bà Trần Thị Nghiêm được hưởng là 500 đồng, sau khi xét xử cụ Gái và gia đình bà Bé đã thanh toán kỷ phần thừa kế cho bà Trần Thị Nghiêm nhưng lâu ngày nên thất lạc hóa đơn chứng từ thi hành án nhưng bà Bé lại xuất trình giấy viết tay giao 250 đồng cho bà Trần Thị Nghiêm mà có xác nhận của ông Chính là Trưởng họ Trần. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bà Trần Thị Nghiêm đã được thanh toán 250 đồng bằng một nửa suất thừa kế là đúng. Do đó yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Nghiêm về nội dung này không có cơ sở chấp nhận.

Xét kháng cáo của bà Trần Thị Nghiêm và đề nghị của bà Trần Thị Nhung về việc không chấp nhận thanh toán tiền chênh lệch tài sản và trị giá tài sản trên đất được thừa kế cho cụ Gái và gia đình bà Bé. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Sau khi chia thừa kế di sản của cụ Sâm, cụ Hồi bà Trần Thị Nghiêm và bà Trần Thị Nhung được hưởng kỷ phần trị giá tổng cộng mỗi người được 839.109.375 đồng. Do bà Trần Thị Nghiêm đã nhận một nửa suất thừa kế do cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) thanh toán nay chỉ còn được chia hưởng một nửa suất thừa kế là 419.554.687,5 đồng. Tổng cộng hai bà được hưởng thừa kế là 1.258.664.062,5 đồng, Tòa sơ thẩm tính tròn là 1.258.664.063 (một tỷ hai trăm năm mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi tư  ngàn không trăm sáu mươi ba) đồng. Nay hai bà được chia nhà đất ở trị giá 1.342.653.600 (một tỷ ba trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm) đồng (trong đó giá trị nhà 01 tầng là 259.653.600 (hai trăm năm mươi chín triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm) đồng, giá trị quyền sử dụng đất là 72,2m2 là 1.083.000.000 (một tỷ không trăm tám mươi ba triệu) đồng và 1/2 trị giá đất ngõ đi chung là 105.738.750 đồng. Tổng cộng là 1.448.392.350 (một tỷ bốn trăm bốn mươi tám triệu ba trăm chín mươi hai ngàn ba trăm năm mươi) đồng thì các bà phải thanh toán chênh lệch tài sản cho cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé số tiền chênh lệch là đúng quy định của pháp luật vì vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Nghiêm cũng như đề nghị của bà Trần Thị Nhung tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Thị Nghiêm phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Từ nhận định trên; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của cụ Tạ Thị Gái do bà Trần Thị Bé đại diện.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Nghiêm. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2014/DS-ST ngày 05/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Áp dụng khoản 5 Điều 25; khoản 2 và khoản 5 Điều 131; các Điều 202, 238, 243 và 245 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 167, 219, 271, 633, 634, 635, 645, 675, 676, 733, 734; khoản 2 Điều 685 và khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Áp dụng Điều 9 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

- Áp dụng các Điều 15 và 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959;

- Áp dụng Điều 50; Điều 136 Luật đất đai;

- Áp dụng khoản 5 Điều 11; Điều 13 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án; áp dụng điểm e khoản 2 Điều 7; khoản 1 Điều 11 và khoản 3 Điều 13 Nghị định 70/CP của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án ngày 12/6/1997; Xử:

1. Xác định khối tài sản là nhà ở, các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở trên diện tích đất 351m2 (đo thực tế) tại thửa đất số 71, tờ bản đồ số 4 thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội) có tổng trị giá là 5.933.342.680 (năm tỷ chín trăm ba mươi ba triệu ba trăm bốn hai ngàn sáu trăm tám mươi) đồng; trong đó giá trị các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở của cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) là 668.342.680 (sáu trăm sáu mươi tám triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm tám mươi) đồng; công sức trông nom, quản lý duy trì di sản của cụ Gái và gia đình bà Bé (tương đương 10%) là 526.500.000 (năm trăm hai mươi sáu triệu năm trăm ngàn) đồng; tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Thị Sâm và cụ Trần Văn Hồi sau khi đã trích công sức cho cụ Gái và gia đình bà Bé về trông nom, quản lý duy trì thì di sản còn là 4.738.500.000 (bốn tỷ bảy trăm ba mươi tám triệu năm trăm ngàn) đồng.

2. Xác định sau khi chia tài sản chung vợ chồng cụ Nguyễn Thị Sâm, cụ Trần Văn Hồi, chia thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thị Sâm theo pháp luật; chia tài sản chung của vợ chồng cụ Trần Văn Hồi và cụ Tạ Thị Gái, chia thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi theo pháp luật thì phần tài sản các đương sự được hưởng có giá trị bằng tiền như sau:

- Bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nhung, bà Trần Thị Minh mỗi người được chia 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thị Sâm là 592.312.500 (năm trăm chín mươi hai triệu ba trăm mười hai ngàn năm trăm) đồng; 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi là 246.796.875 (hai trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi lăm) đồng; tổng cộng mỗi bà được chia hưởng 01 suất thừa kế di sản của cụ Sâm và cụ Hồi có trị giá bằng tiền là 839.109.375 (tám trăm ba mươi chín triệu một trăm linh chín ngàn ba trăm bảy lăm) đồng. Trong đó xác định bà Trần Thị Nghiêm đã nhận một nửa suất thừa kế đối với di sản của cụ Sâm và cụ Hồi do cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) thanh toán nay chỉ còn được chia hưởng một nửa suất thừa kế là 419.554.687,5 (bốn trăm mười chín triệu năm trăm năm mươi tư ngàn sáu trăm tám mươi bảy phẩy năm) đồng; xác định bà Trần Thị Minh được chia hưởng 01 suất  thừa kế đối với di sản của cụ Sâm và cụ Hồi nhưng đã tự nguyện nhường cho bà Trần Thị Bé từ năm 1984 nên suất thừa kế phần của bà Minh thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Bé. Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị Minh gồm ông Đặng Trần Thảo, chị Đặng Thị Lý, anh Đặng Trần Toàn, anh Đặng Trần Thắng, anh Đặng Trần Thông nay không được nhận thừa kế phần bà Trần Thị Minh đối với di sản của cụ Sâm và cụ Hồi.

- Cụ Tạ Thị Gái được chia 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi là 246.796.875 (hai trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi lăm) đồng và được hưởng 1/2 giá trị tài sản chung vợ chồng của cụ Hồi và cụ Gái là 1.480.781.250 (một tỷ bốn trăm tám mươi triệu bảy trăm tám mốt ngàn hai trăm năm mươi) đồng. Tổng cộng tài sản cụ Gái được hưởng có giá trị bằng tiền là 1.727.578.125 (một tỷ bảy trăm hai bảy triệu năm trăm bảy tám ngàn một trăm hai nhăm) đồng (chưa bao gồm phần cụ Gái được hưởng chung trong giá trị các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở của cụ Gái và gia đình bà Bé cùng công sức trông nom, quản lý duy trì di sản của cụ Gái và gia đình bà Bé).

- Bà Trần Thị Bé (tức Nhi) và bà Trần Thị Nga mỗi người được chia 01 kỷ phần thừa kế di sản của cụ Trần Văn Hồi là 246.796.875 (hai trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi lăm) đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nga nhường kỷ phần thừa kế cho bà Bé nên suất thừa kế phần của bà Nga thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Bé. Như vậy phần tài sản mà bà Trần Thị Bé được nhận từ việc chia di sản của cụ Sâm và cụ Hồi có trị giá tổng cộng bằng tiền là 1.332.564.351 (một tỷ ba trăm ba mươi hai triệu năm trăm sáu mươi tư ngàn ba trăm năm mốt) đồng (chưa bao gồm phần bà Bé được hưởng chung trong giá trị các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở của cụ Gái và gia đình bà Bé cùng công sức trông nom, quản lý duy trì di sản).

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nhung về việc nhận chung tài sản thừa kế; bà Nhung và bà Nghiêm được sở hữu chung tài sản thừa kế có giá trị tổng cộng là 1.258.664.063 đồng (trong đó bà Nghiêm được sở hữu trị giá 1/3 tài sản, bà Nhung được sở hữu trị giá 2/3 tài sản).

Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Tạ Thị Gái và bà Trần Thị Bé đại diện cho gia đình bà Bé về việc nhận chung tài sản nên cụ Gái và gia đình bà Bé được sở hữu tài sản có giá trị tổng cộng là 4.674.678.617 (bốn tỷ sáu trăm bảy mươi tư triệu sáu trăm bảy mươi tám ngàn sáu trăm mười bảy) đồng (đã bao gồm cả giá trị các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với đất ở của cụ Gái và gia đình bà Bé cùng công sức trông nom, quản lý duy trì di sản của cụ Gái và gia đình bà Bé).

3. Về hiện vật nhà đất tại thửa đất số 71- tờ bản đồ số 4 thôn Phú Diễn, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) được phân chia như sau (có sơ đồ kèm theo):

- Dành một phần diện tích đất làm ngõ đi chung cho cụ Tạ Thị Gái, gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi), bà Trần Thị Nghiêm, bà Trần Thị Nhung có kích thước là 1,95m x 7,23m = 14,0985m2, có giá trị là 211.477.500 đồng. Ranh giới ngõ đi chung được xác định tại sơ đồ kèm theo bản án (được giới hạn bởi các điểm 18, 19, C, D, 18). Các bên gồm: bên cụ Gái, gia đình bà Bé và bên bà Nghiêm, bà Nhung được quyền sử dụng ngõ đi chung và mỗi bên phải chịu trị giá 1/2 ngõ đi chung bằng 105.738.750 (một trăm linh năm triệu bảy trăm ba mươi tám ngàn bảy trăm năm mươi) đồng tính vào giá trị di sản được chia hưởng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Bé (tức Nhi) đại diện cho gia đình bà Bé không yêu cầu tính giá trị khung sắt mái tôn, 01 cổng sắt 04 cánh và đoạn tường bao trên phần diện tích đất làm ngõ đi chung.

Các bên được sử dụng ngõ đi chung có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích làm lối đi từ phần nhà đất được giao ra đến đường công cộng của xóm, không ai được cản trở việc sử dụng ngõ đi chung nêu trên.

- Giao bà Trần Thị Nghiêm và bà Trần Thị Nhung được quyền sở hữu, sử dụng chung hiện vật tài sản gồm: 01 nhà ở 01 tầng trên khuôn viên đất có diện tích 72,2m2 có tổng trị giá nhà và quyền sử dụng đất là 1.342.653.600 (một tỷ ba trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm) đồng (trong đó giá trị nhà 01 tầng là 259.653.600 (hai trăm năm mươi chín triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm) đồng, giá trị quyền sử dụng đất là 72,2m2 là 1.083.000.000 (một tỷ không trăm tám mươi ba triệu) đồng; ranh giới nhà, đất được xác định tại sơ đồ kèm theo bản án (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, A, B, C, 19, 1). Trong đó phần của bà Nghiêm được sở hữu, sử dụng là 1/3, phần của bà Nhung được sở hữu sử dụng là 2/3 trị giá tài sản được giao.

Bà Trần Thị Nghiêm và bà Trần Thị Nhung được quyền sở hữu, sử dụng chung nhà, đất được giao nêu trên có trách nhiệm bịt các cửa sổ và cửa ra vào của ngôi nhà 01 tầng hiện đang mở quay sang hướng tiếp giáp đất giao cho cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé và phải dỡ bỏ phần ô văng che trên các cửa đó đảm bảo việc sử dụng nhà đất theo đúng ranh giới khuôn viên đất được giao chiếu thẳng đứng từ mặt đất lên các ô văng che trên các cửa sổ và cửa ra vào nêu trên.

- Buộc bà Trần Thị Nghiêm và bà Trần Thị Nhung phải thanh toán giá trị tài sản chênh lệch cho cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé số tiền là 189.728.200 đồng. Trong đó, bà Nghiêm phải thanh toán 1/3 số tiền chênh lệch là 63.242.700 (sáu mươi ba triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn bảy trăm) đồng. Bà Nhung phải thanh toán 2/3 số tiền chênh lệch là 126.485.500 (một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi lăm ngàn năm trăm)đồng.

- Giao cho cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) bao gồm các thành viên: bà Trần Thị Bé, ông Ngô Quang Bình, anh Ngô Hồng Phong, anh Ngô Phi Long, chị Đặng Thị Đào, chị Ngô Huyền Giang được quyền sở hữu, sử dụng chung hiện vật tài sản gồm nhà ở, toàn bộ các công trình xây dựng và tài sản gắn liền với diện tích đất còn lại là 264,7015m2 có tổng giá trị là 4.379.211.580 (bốn tỷ ba trăm bảy mươi chín triệu hai trăm mười một ngàn năm trăm tám mươi) đồng. (gồm có 01 nhà 02 tầng trị giá 391.627.600 (ba trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm) đồng; tường rào trị giá 14.604.480 (mười bốn triệu sáu trăm linh bốn ngàn bốn trăm tám mươi) đồng; 01 giếng khoan trị giá 2.457.000 (hai triệu bốn trăm năm mươi bảy ngàn) đồng; quyền sử dụng đất 264,7015m2 là 3.970.522.500 (ba tỷ bốn trăm bảy mươi triệu năm trăm hai mươi hai ngàn năm trăm) đồng; ranh giới nhà, đất được xác định tại sơ đồ kèm theo bản án (được giới hạn bởi các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10,11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, D, C, B, A, 2).

Cụ Tạ Thị Gái và gia đình bà Trần Thị Bé (tức Nhi) do bà Bé đại diện được nhận số tiền chênh lệch về tài sản do bà Nghiêm và bà Nhung thanh toán tổng cộng là 189.728.200 (một trăm tám mươi chín triệu bảy trăm hai mươi tám ngàn hai trăm) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền và nghĩa vụ đăng ký kê khai quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở được phân chia theo bản án tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật về nhà ở và đất đai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00331/QSDĐ tại Quyết định số 1741/QĐ-UB ngày 24/12/2001 do UBND huyện Từ Liêm - thành phố Hà Nội đã cấp đứng tên chủ sử dụng đất là hộ gia đình bà Trần Thị Bé không còn giá trị pháp lý.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Án phí: Buộc bà Trần Thị Nghiêm phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm;

Sung công quỹ số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm của cụ Tạ Thị Gái do bà Trần Thị Bé nộp thay, tại biên lai thu số AP/2010/0009668 ngày 03/6/2014 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


233
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về