Bản án 45/2020/HSST ngày 30/10/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 45/2020/HSST NGÀY 30/10/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 30 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2020/TLST-HS ngày 01/10/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2020/QĐXXST-HS ngày 16/10/2020, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tấn A (tên gọi khác: Nhỏ), sinh năm 1982, tại: Đăk Lăk; nơi cư trú: Tổ 05, khối X, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: Không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con bà Hồ Thị L, sinh năm 1944, cha: không rõ họ tên. Bị cáo là út trong gia đình có 06 anh chị em, có vợ là Trần Thụy T và 04 con, con lớn nhất 16 tuổi, con nhỏ nhất chưa được 01 tuổi.

Tiền sự: Không Tiền án: Ngày 11/4/2018, bị TAND tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 09/10/2018 Nhân thân:

- Ngày 01/02/2002, bị Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 12 tháng về hành vi “Tụ tập băng nhóm, gây rối đánh nhau”, đã chấp hành xong vào ngày 03/02/2003.

- Ngày 21/7/2003, bị Công an phường M, thành phố H, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong quyết định xử phạt.

- Ngày 14.12.2010, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung 2009), đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 21/01/2013.

- Ngày 30/8/2016, bị Công An phường C, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong quyết định xử phạt.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Nguyễn Tấn T, sinh ngày 01/01/1977, tại Kon Tum; nơi cư trú: Tổ 29, thôn B, xã C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: Không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn C (đã chết) và bà Hồ Thị L (còn sống); Bị cáo là con thứ 5 trong gia đình có sáu anh chị em; Có vợ là Nguyễn Thị Ơ và 02 con, con lớn 23 tuổi, con nhỏ 17 tuổi.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

3. Hồ Thị Mỹ O (Tên gọi khác: Bé ghẻ), sinh ngày 21 tháng 01 năm 1988, tại Quảng Nam; nơi cư trú: Tổ 06, khối X1, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 05/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Hồ Thị T (còn sống), cha: không rõ họ tên; Bị cáo có chồng là Nguyễn Quốc C, sinh năm 1985 và 02 con, con lớn 09 tuổi, con nhỏ 02 tuổi.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

4. Hồ Đắc C, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1984, tại Quảng Nam; Đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn T, xã C, thành phố H; nơi cư trú: Tổ 29, thôn B, xã C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; trình độ học vấn: 05/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Đắc H (còn sống) và bà Trần Thị L (còn sống); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con đầu; có vợ là Lê Thị T đã ly hôn và 02 con, con lớn 11 tuổi, con nhỏ 09 tuổi.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hồ Thị T, sinh năm 1963; nơi cư trú: Tổ 06, khối Xuân Mỹ, phường Tân An, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng + Bà Nguyễn Thị Ơ, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ 29, thôn Bầu Ốc, xã C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

+ Bà Trần Thụy T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ 05, khối Xuân Thuận, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

+ Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ 27, thôn Bến Trễ, xã C1, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 30/7/2020, Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T và Hồ Đắc C đến uống cà phê tại nhà bà Hồ Thị T ở tổ 6, khối Xuân Mỹ, phường Tân An, thành phố H do Hồ Thị Mỹ O (con bà T) làm chủ. Tại đây, Hồ Thị Mỹ O mang ra 01 bộ dụng cụ để chơi “bầu cua” và rủ Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Đắc C ra phía sau nhà bà T để chơi đánh bạc trái phép dưới hình thức “rung bầu cua” thắng thua bằng tiền, O là người cầm cái (người rung), còn A, T và C là người đặt cược. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường Tân An, thành phố H kiểm tra tại nhà bà Hồ Thị T thì phát hiện Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Đắc C, Hồ Thị Mỹ O đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép. Công an phường T đã lập biên bản phạm tội quả tang về sự việc trên và tạm giữ một số đồ vật, tài sản tại chiếu bạc và trên người các đối tượng.

Các đối tượng đã khai nhận hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức rung bầu cua tôm cá gà nai thắng thua bằng tiền, trong đó Hồ Thị Mỹ O là người cầm cái. Cách thức chơi như sau: Bắt đầu mỗi ván, O để 03 hột xúc xắc lên trên dĩa nhôm, úp thau nhôm lại rồi rung nhiều lần, kết quả được giữ kín. Sau đó, người chơi đặt cược tiền vào một hoặc nhiều hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai được in trên tờ giấy dán trên bàn nhựa, mỗi lần đặt cược không quá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) mỗi người. Sau khi người chơi đặt cược xong, O bắt đầu mở thau được úp trên dĩa ra, nếu 03 hột xúc xắc xuất hiện hình mà người tham gia chơi đặt cược thì người chơi thắng, O chung tiền với tỷ lệ 1:1 (nếu có 01 hình), 2:1 (nếu có 02 hình), 3:1 (nếu có 03 hình); nếu hình mà người chơi chọn không xuất hiện thì O thắng toàn bộ số tiền người chơi đã đặt cược. Ngoài ra, trong lúc chơi nhà con có thể "dời" các cửa đặt cược với nhau, việc thắng thua do người chơi tự xử lý với nhau, không liên quan đến người cầm cái.

Các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền đánh bạc cụ thể như sau:

- Nguyễn Tấn A: Tổng số tiền dùng đánh bạc là 3.000.000 đồng gồm: 1.500.000 đồng là tiền đánh bạc ban đầu và 1.500.000 đồng là tiền thắng bạc (Trong đó có 1.400.000 đồng đang cầm trên tay và 100.000 đồng đặt dưới chiếu bạc khi bị bắt quả tang).

- Nguyễn Tấn T: Tổng số tiền dùng đánh bạc là 1.410.000 đồng, thua 910.000 đồng, còn lại 500.000 đồng đặt dưới chiếu bạc khi bắt quả tang.

- Hồ Đắc C: Tổng số tiền dùng đánh bạc là 680.000 đồng gồm: 340.000 đồng là tiền đánh bạc ban đầu và 340.000 đồng là tiền thắng bạc (Trong đó: 290.000 đồng đang cầm trên tay và 50.000 đồng đặt dưới chiếu bạc khi bị bắt quả tang) - Hồ Thị Mỹ O: Tổng số tiền dùng đánh bạc là 2.500.000 đồng, thua 930.000 đồng, còn lại 1.570.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C dùng để đánh bạc là 5.750.000 đồng bao gồm: 2.900.000 đồng của Nguyễn Tấn A, 630.000 đồng của Hồ Đắc C, 1.570.000 đồng của Hồ Thị Mỹ O và 650.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSHA- HS ngày 30/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O và Hồ Đắc C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai của các bị cáo là phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo như cáo trạng số 44/CT-VKSHA ngày 30/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H. Về những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị các đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo O có vai trò cao hơn đó là rủ rê, cầm cái nên chịu mức phạt cao hơn; đối với bị cáo Nguyễn Tấn A có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nên đề nghị HĐXX áp dụng để xem xét khi lượng hình. Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A từ 06 đến 09 tháng tù; phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hồ Thị Mỹ O từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T, Hồ Đắc C mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử lý vật chứng của vụ án như Cáo trạng đã đề nghị.

Các bị cáo thống nhất với tội danh; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Các bị cáo đã nhận biết sai trái, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo và người liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Vào lúc, 15 giờ 30 phút ngày 30/7/2020, tại nhà bà Hồ Thị T, Công an phường T, thành phố H bắt quả tang Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Đắc C, Hồ Thị Mỹ O đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, thu giữ tại chiếu bạc 650.000 đồng và dụng cụ đánh bạc. Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 30/7/2020, Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T và Hồ Đắc C đến uống cà phê tại quán cà phê do Hồ Thị Mỹ O làm chủ. Tại đây, Hồ Thị Mỹ O mang ra 01 bộ dụng cụ để chơi bầu cua tôm cá gà nai và rủ Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Đắc C ra phía sau nhà bà T để chơi đánh bạc trái phép dưới hình thức “rung bầu cua” thắng thua bằng tiền, O là người cầm cái, còn A, T và C là người đặt cược. Tổng số tiền mà Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C dùng để đánh bạc là 5.750.000 đồng bao gồm: 2.900.000 đồng của Nguyễn Tấn A, 630.000 đồng của Hồ Đắc C, 1.570.000 đồng của Hồ Thị Mỹ O và 650.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc.

Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy phù hợp, có căn cứ. Vì vậy, hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Do đó, cáo trạng số 44/CT-VKSHA ngày 30/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C nhận thức được việc đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền mà không được pháp luật cho phép đều bị nghiêm cấm. Song, chỉ vì mục đích hám lợi các bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm nên cần phải xử lý một cách nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Xét, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo A, bị cáo T trình độ học vấn không có, nhận thức pháp luật bị hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Tấn A đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nay phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo A khi lượng hình.

[5] Xét về nhân thân và vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Số tiền mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội “đánh bạc” chỉ 5.750.000 đồng là rất ít nên các bị cáo tuy phạm tội nhưng mức độ gây nguy hiểm cho xã hội không lớn. Hơn nữa, các bị cáo Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có vai trò như nhau nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng mức phạt tiền thấp nhất của Điều luật cho các bị cáo. Riêng, đối với bị cáo Nguyễn Tấn A phạm tội trong vụ án này có tình tiết tăng nặng là tái phạm, bản thân bị cáo có nhân thân không tốt nhưng Hội đồng xét xử cũng thấy rằng bị cáo phạm một tội mà mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, không cùng tính chất với lần phạm tội trước đó nên cần tạo điều kiện cho bị cáo phục thiện, nuôi dạy các con còn nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt tiền ở mức cao hơn các bị cáo khác là cũng đảm bảo tính ren đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng, tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm: Đối với 01 bộ dụng cụ để chơi bầu cua bao gồm: 01 thau nhôm; 01 dĩa nhôm; 03 hột xúc xắc bằng xốp, hình lập phương, mỗi hột có 06 mặt, mỗi mặt có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 bàn bằng nhựa màu xanh, trên mặt bàn có dán 01 tờ giấy in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai. Đây là tang vật trực tiếp dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật.

Số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc 5.750.000 đồng, bao gồm Nguyễn Tấn A 2.900.000 đồng, Hồ Đắc C 630.000 đồng, Hồ Thị Mỹ O 1.570.000 đồng và tiền thu giữ tại chiếu bạc 650.000 đồng cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với số tiền thu giữ 29.950.000 đồng bao gồm 25.000.000 đồng của Nguyễn Tấn A, 4.950.000 đồng của Nguyễn Tấn T là tiền riêng của các bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt:

- Bị cáo Hồ Thị Mỹ O số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

- Bị cáo Hồ Đắc C số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T số tiền 20.000.000 đồng (Hai chục triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc 5.750.000 đồng (Năm triệu, bảy trăm, năm chục nghìn đồng), bao gồm Nguyễn Tấn A 2.900.000 đồng, Hồ Đắc C 630.000 đồng, Hồ Thị Mỹ O 1.570.000 đồng và tiền thu giữ tại chiếu bạc 650.000 đồng - Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Tấn A 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), bị cáo Nguyễn Tấn T 4.950.000 đồng (Bốn triệu, chín trăm năm chục nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật: 01 bộ dụng cụ để chơi bầu cua bao gồm: 01 thau nhôm; 01 dĩa nhôm; 03 hột xúc xắc bằng xốp, hình lập phương, mỗi hột có 06 mặt, mỗi mặt có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 bàn bằng nhựa màu xanh, trên mặt bàn có dán 01 tờ giấy in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.

(Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố H theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/10/2020. Riêng đối với số tiền 35.700.000 đồng được nộp vào tài khoản số 3949.0.9043934.00000 tại KBNN Hội An của Công an thành phố H theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 05/8/2020).

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tấn A, Nguyễn Tấn T, Hồ Thị Mỹ O, Hồ Đắc C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/10/2020). Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2020/HSST ngày 30/10/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:45/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hội An - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/10/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về