Bản án 45/2020/HS-PT ngày 20/01/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 45/2020/HS-PT NGÀY 20/01/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 909 /2019/TLPT-HS ngày 20 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Hoàng Xuân Nh phạm tội ‘Mua bán trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 267/2019/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Xuân Nh, sinh năm 19Xx; ĐKHKTT: Tổ 24, thị trấn Đông A, huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn Kính Nỗ, xã Uy N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Xuân C và bà Đỗ Thanh Th; Có vợ là Nguyễn Ngọc Ch; Có 01 con (Mới sinh); Tiền án, tiền sự: Chưa Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/07/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số: 01 Công an thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Hoàng Xuân Nh bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Bị cáo Hoàng Xuân Nh mua 15 gói Cần sa với giá 2.400. 000 đồng của một thanh niên mới quen qua số điện thoại 0902524735. Vào ngày 02/07/2019, bị cáoNh chuyển tiền mua Cần sa vào tài khoản 060008142060 có Chủ tài khoản là Trịnh Kỳ Lân tại Ngân hàng thượng mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, người bán đã gửi lại một hộp cát tông chứ 15 túi ni lon có kích thước (4x7) cm chứa Cần sa đến nhà bị cáoNh qua đường Bưu điện. Bị cáo Nh đã sử dụng hết 07 gói, còn 08 gói bị cáo Nh sử dụng dần và bán kiếm lời.

Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 28/07/2019 đối tượng Nguyễn văn T dùng tài khoản FACEBOOKcó tên “Cân Cường” nhắn tin làm quen và xin số điện thoại của bị cáoNh. Sau đó T nhắn tin hỏi mua 02 gói Cần sa với giá 930 000 đồng. Bị cáo Nh đồng ý và hẹ gặp ở cổng công viên Hòa Bình để giao nhận. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày đối tượng Nguyễn Thế Anh cũng gọi điện cho bị cáoNh hỏi mua một gói Cần sa với giá 200.000 đồng, bị cáoNh đồng ý và cũng hẹn gặp ở cổng công viên Hòa Bình để nhận ma túy. Bị cáoNh lấy 30 gói Cần sa cho vào túi xách đeo trước ngực và 05 gói còn lại cất trong xe máy HON DA Wave BKS:22S1- 253.58 rồi điều khiển xe máy đi từ nhà bị cáoNh tại xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đến cổng công viên Hòa Bình gặp T và Khải. Khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo Hoàng Xuân Nh đến công viên Hòa Bình gặp đối tượng Khải, Khải đưa cho bị cáo Nh 200.000đồng, bị cáo Nh đưa cho Khải 01 gói Cần sa, cùng lúc đó đối tượng T đi đến hỏi bị cáo Nh và đang đếm tiền để đưa cho bị cáoNh, còn bị cáo Nh đang mở túi lấy 02 gói Cần sa để bán cho T thì bị Công an phường Đông Ngạc bắt quả tang.

Vật chứng vụ án thu giữ của bị cáo Nh: 07 túi nilong kích thước (4x7) cm bên trong chứa thảo mộc khô; 01 xe máy Honda Wave α BKS: 22S1-253.58, số máy JA39E- 0135026, số khung RLHJA3904HY134982; 01 điện thoại Iphone 6S plus có số sim 0965819210; 200.000 đồng; 01 túi xách màu đen có dây đeo, thu giữ của Khải: 01 túi nilon kích thước (4x7) cm bên trong chứa thảo mộc khô; 01 xe máy WAVETHAIS, BKS 29D2-26111, số khung RL1DCH3L1AA513782, số máy VZS152FMH513782; 01 điện thoại Iphone X màu đen có số sim 0889013081; Thu giữ của Tú: 01 điện thoại Samsung màu đen bạc và 950.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số: 4864/KLGĐ- PC09 ngày 05/8/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilông thu giữ trong túi xách của bị cáoNh là Cần sa, tổng khối lượng là 1,973 gam; Thảo mộc khô bên trong 05 túi nilông thu giữ trong cốp xe của bị cáoNh đều là Cần sa, tổng khối lượng là 24,377 gam; Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilông thu giữ trong cốp xe của Khải là cần sa, khối lượng là 4,879 gam.

Xét nghiệm tìm chất ma tuý trong nước tiểu của bị cáoNh, anh Khcho kết quả dương tính (Có sử dụng ma tuý), Tú cho kết quả âm tính (Không sử dụng ma tuý). Tú mua Cần sa về để sử dụng nhưng chưa mua được nên không xử lý. Khải mua Cần sa về để sử dụng, hành vi có dấu hiệu của tội tàng trữ trái phép chất ma tuý tuy nhiên khối lượng ma tuý nhỏ nên Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Kh về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Nghị định số: 167/2013/NĐ- CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Số điện thoại 0902524735 của người bán ma tuý cho bị cáo, có chủ thuê bao là Trịnh Kỳ Lân, sinh năm 1958; ĐKHKTT: Số 14, đường 8, phường Phước Bình, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Công an phường Phước Bình cung cấp Lân đã bán nhà, chuyển đi nơi khác từ năm 2006, hiện không biết Lân làm gì, ở đâu. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín cung cấp: Lân có địa chỉ tại 105M/22 Hồ Thị Kỷ, phường 1, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, mở tài khoản số 060008142060 tại Chi nhánh Nguyễn Tri Phương ngày 07/04/2008; Vào các ngày 02/7/2019 và 10/7/2019 có phát sinh giao dịch chuyển tiền giữa bị cáo và Lân. Công an phường 1 cung cấp Lân đã chuyển đi nơi khác từ năm 2013, hiện không biết Lân làm gì, ở đâu. Ngày 20/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách rút tài liệu liên quan đến Trịnh Kỳ Lân để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Chiếc xe máy Honda Wave α BKS: 22S1-253.58, số máy JA39E0135026, số khung RLHJA3904HY134982 là của bà Nguyễn Thị Ph, Sinh năm: 1968, ĐKHKTT: Tổ dân phố Tân Kỳ, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tháng 02/2018, bà Ph bán lại xe cho bà Đỗ Thanh Th (Mẹ đẻ bị cáo). Bà Th cho bị cáo mượn xe để đi lại, không biết việc bị cáo dùng xe đi bán ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho bà Th, bà Th đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.

Chiếc xe máy nhãn hiệu WAVETHAIS BKS 29D2-26111 có số khung RL1DCH3L1AA513782, số máy VZS152FMH513782 thu giữ của Khải là xe của Khải. Ngày 14/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho Khải. Khải đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Chiếc điện thoại Iphone X màu đen lắp số sim 0889013081 thu giữ của anh Kh, là tài sản của bà Nguyễn Thị Hồng L (Mẹ đẻ anh Kh. Đầu tháng 7/2019, Kh không có điện thoại sử dụng nên bà cho Khải mượn chiếc điện thoại kèm sim trên. Bà L không biết anh Khải sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc mua ma tuý. Chiếc điện thoại Iphone 6S plus có số sim 0965819210, số tiền 200.000 đồng, 01 túi xách màu đen thu giữ của bị cáo Nh, 01 điện thoại Samsung màu đen bạc và 950.000 đồng thu giữ của Tú là những tài sản riêng của bị cáo và T. Tại cáo trạng số: 266/CT-VKS ngày 31/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Hoàng Xuân Nh về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 267/2019/HS-ST ngày 16/11/2019 của Tòa án nhân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Nh phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hoàng Xuân Nh 06 (Sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/07/2019.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 21/11/2019 bị cáo Hoàng Xuân Nh kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không có ý kiến gì về tội danh, điều luật mà cấp sơ thẩm áp dụng để xử phạt bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án.

Về hình thức: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn Luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Xuân Nh. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Xuân Nh 06 (Sáu) năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1.Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

2. Xét nội dung kháng cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo Hoàng Xuân Nh tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo Hoàng Xuân Nh đến công viên Hòa Bình gặp đối tượng Kh, Kh đưa cho bị cáoNh 200.000đồng, bị cáNh đưa cho Khải 01 gói Cần sa, cùng lúc đó đối tượng Tú đi đến hỏi bị cáNh và đang đếm tiền để đưa cho bị cáo Nh, còn bị cáo Nh đang mở túi lấy 02 gói Cần sa để bán cho T thì bị Công an phường Đông Ngạc bắt quả tang.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Xuân Nh phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

theo điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, nhận thấy:

Hành vi của bị cáo Hoàng Xuân Nh là nguy hiểm cho xã hội, vì đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, quận Bắc Từ Liêm. Ma túy có tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó, chính vì vậy mà Nhà nước và cả xã hội ra sức đấu tranh nhằm loại trừ tệ nạn này. Bị cáo nhận thức được điều này, song vẫn mua bán ma túy để sử dụng và hưởng lợi nên phạm tội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự giao nộp 05 gói Cần sa trong cốp xe mô tô của bị cáo. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, hoàn cảnh bị cáo gặp nhiều khó khăn, có con mới sinh; Gia đình bị cáo có công với cách mạng. Tòa cấp sơ thẩm áp dụng theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự; Căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, với mức án của bị cáo Hoàng Xuân Nh mà cấp sơ thẩm tuyên là nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Xuân Nh.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Xuân Nh. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm về phần hình sự; Giảm hình phạt cho bị cáo Hoàng Xuân Nh.

Bị cáo không phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

I .Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Xuân Nh.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 267/2019/HS-ST ngày 16 /11/2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội về quyết định hình sự; Giảm hình phạt cho bị cáo.

III.Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Nh phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Xuân Nh 05 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/07/2019.

III. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Xuân Nh không phải chịu 200.000đ tiền án án phí hình sự phúc thẩm.

IV.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 20/01/2020.


49
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về