Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 19/07/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 45/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 19/7/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2019/TLST-HNGĐ ngày 22/4/2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Vân, sinh năm 1960

Địa chỉ: Số nhà 28, đường Đàm Thuận Huy, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Thủy, sinh năm 1963

Địa chỉ: Thôn 12, xã Ea Ô, huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) 

NỘI DUNG VỤ ÁN

+ Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2019, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Trịnh Thị Vân trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Xuân Thủy đăng ký kết hôn vào năm 1984 tại UBND xã Đồng Sơn, huyện Yên Dũng (nay là thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang, trước khi kết hôn ông bà được tự do tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và có được tổ chức lễ cuới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương.

Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại gia đình ông Thủy ở thôn Phấn Sơn, xã Đồng Sơn. Thời gian đầu tỉnh cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc và đã có 03 con chung.

Đến năm 1992 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông Thủy có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên đã bỏ bà đưa cả ba con chung đi khỏi địa phương đến nay không thấy về nữa. Khi đi ông Thủy mang theo toàn bộ đồ đạc, tài sản và giấy tờ của gia đình đi, do đó bà không còn giấy chứng nhận kết hôn để nộp cho Tòa án, bà có ra UBND xã Đồng Sơn xin cấp trích lục kết hôn nhưng do thời gian đã lâu UBND xã Đồng Sơn cũng trả lời bà là không còn lưu trữ sổ đăng ký kết hôn năm 1984 nữa.

Bà và ông Thủy đã ly thân từ năm 1992 đến nay không còn liên quan gì đến nhau. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Thủy.

Về con chung vợ chồng: Vợ chồng bà có 03 con chung là Nguyễn Thị Nguyện, sinh năm 1985, Nguyễn Văn Tuyên, sinh năm 1988, Nguyễn Thị Tuyến, sinh năm 1990. Hiện nay cả ba con chung đều đã trưởng thành, bà không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại phiên tòa bà Vân vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.

+ Tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Xuân Thủy trình bày:

Ông và bà Trịnh Thị Vân là vợ chồng về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Sơn, huyện Yên Dũng (nay là thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang vào năm 1985, giấy chứng nhận kết hôn đã bị thất lạc nên ông không nhớ cụ thể ngày.

Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại khu tập thể Công ty xây dựng Bắc Giang. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng bình thường, không xảy ra mâu thuẫn. Bà Vân bỏ lại cho ông nuôi ba con chung và tự ý ra khỏi nhà không rõ lý do. Năm 1992 ông đã đưa ba con chung vào thôn 12, xã Ea Ô, huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk sinh sống, làm việc, ông và bà Vân đã ly thân từ thời gian đó đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm liên lạc gì với nhau. Nay ông thấy tình cảm vợ chồng không còn, về chung sống với nhau cũng không hạnh phúc nên ông đồng ý ly hôn bà Vân.

Về con chung: Vợ chồng có 3 con chung là Nguyễn thị Nguyện, sinh năm 1985, Nguyễn Văn Tuyên sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Tuyến, sinh năm 1990.

Hiện các con đã thành niên, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay hộ khẩu thường trú của ông ở xã Ea Ô, huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk, ông và bà Thủy thông nhất lựa chọn Tòa án nợ nguyên đơn cư trú giải quyết vụ án ly hôn giữa ông và bà Thủy. Do điều kiện ông ở xã nên ông đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để giải quyết vắng mặt ông.

+ Tại Công văn số 33/UBND-TP ngày 14/5/2019 UBND xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang cung cấp thông tin như sau: Sổ đăng ký kết hôn năm 1984 hiện không còn lưu trữ tại địa phương nên UBND xã Đồng Sơn không cung cấp được Trích lục kết hôn cho Tòa án.

+ Tại biên bản xác minh ngày 26/6/2019 bà Nguyễn Thị Miền là mẹ đẻ của ông Nguyễn Xuân Thủy cung cấp: Năm 1985 ông Nguyễn Xuân Thủy kết hôn với bà Trịnh Thị Vân, trước khi kết hôn vợ chồng có được tự do tìm hiểu và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại gia đình bà, thời gian đầu tình cảm hòa thuận hạnh phúc. Tuy nhiên khoảng năm 1992 thì bà không biết vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thế nào mà bà Thủy giao cả 3 con chung cho ông Vân nuôi. Đến tháng 12 năm 1992 ông Thủy đưa cả 3 con vào làm ăn, sinh sống, định cư ở Đăk Lắk không về địa phương sống nữa, thi thoảng ông Thủy có đưa các con về thăm gia đình nhưng bà Thủy cũng không đến thăm các con. Bà Vân và ông Thủy đã ly thân từ năm 1992 đến nay.

+ Tại biên bản xác minh ngày 26/6/2019 diện chính quyền địa phương tại thôn Phấn Sơn, xã Đồng Sơn, thành phố Bắc Giang cung cấp: Ông Thủy trước đây cư trú tại địa phương nhưng ông Thủy đã chuyển vào tỉnh Đak Lak sống từ rất lâu, khoảng hơn 20 năm. Thời gian ông Thủy sống tại địa phương, ông Thủy và bà vân có tổ chức lễ cưới hỏi và chung sống với nhau nhưng do thời gian đã lâu ông không nhớ bà Vân ông Thủy tổ chức lễ cưới thời gian nào và có đăng ký kết hôn hay không. Về quan hệ hôn nhân giữa bà Vân và ông Thủy thì vợ chồng đã ly thân từ khi ông Thủy đi khỏi địa phương, còn cụ thể mâu thuẫn vợ chồng như thế nào địa phương không nắm được.

+ Do cả bà Vân và ông Thủy đều có đơn đề nghị không hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

+ Tại phiên toà hôm nay bị đơn là ông Nguyễn Xuân Thủy có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Vân và xử cho bà Vân được ly hôn ông Nguyễn Xuân Thủy. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Bà Trịnh Thị Vân phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về việc mặt mặt của bị đơn: Bị đơn là ông Nguyễn Xuân Thủy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt ông Thủy theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Trịnh Thị Vân có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Xuân Thủy. Ông Nguyễn Xuân Thủy hiện đang sinh sống tại Thôn 12, xã Ea Ô, huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk và ông Thủy thống nhất lựa chọn Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn giải quyết. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Theo như trình bày của bà Trịnh Thị Vân và ông Nguyễn Xuân Thủy thì ông bà có đăng ký kết hôn năm 1984 tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Sơn, huyện Yên Dũng (nay là thành phố Bắc Giang), do Giấy chứng nhận kết hôn bị thất lạc ông bà không cung cấp được cho Tòa án. Ủy ban nhân dân xã Đồng Sơn không cung cấp được sổ kết hôn năm 1984, do không còn lưu trữ. Nhưng, qua xác minh tại địa phương, cũng như căn cứ vào lời khai của các đương sự thì giữa bà Vân và ông Thủy có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, hai người sống chung như vợ chồng tại địa phương từ năm 1985 và được hai gia đình chấp nhận. Mặc dù, bà Vân, ông Thủy không cung cấp được giấy đăng ký kết hôn, nhưng hai người chung sống với nhau từ năm 1985 trước khi luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, tại điểm a mục 3 Nghị quyết số: 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội quy định: “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Do vậy, Tòa án giải quyết ly hôn giữa bà Vân và ông Thủy là phù hợp với quy định trên.

Về quá trình chung sống của vợ chồng thì thấy: Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 1992 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông Thủy cùng 3 con chung đã chuyển vào tỉnh Đắk Lắk sống từ năm 1992 và vợ chồng ly thân từ thời gian đó đến nay. Như vậy hai vợ chồng đã có thời gian ly thân rất lâu, bà Vân yêu cầu ly hôn, ông Thủy cũng đồng ý ly hôn và hai bên đều đề nghị Tòa án không hòa giải chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Vân là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Các con chung đều đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Vân, ông Thủy đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bà Vân phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và theo điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a mục 3 Nghị quyết số: 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Xử:

2.1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Trịnh Thị Vân được ly hôn ông Nguyễn Xuân Thủy.

2.2. Về án phí: Bà Trịnh Thị Vân phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng Bà Vân đã nộp theo biên lai số AA/2016/0000397 ngày 22/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

2.3. Về quyền kháng cáo: Bà Vân có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Thủy vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 19/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:45/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về