Bản án 45/2017/HSST ngày 09/11/2017 về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 45/2017/HSST NGÀY 09/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP VŨ KHÍ QUÂN DỤNG

Ngày 09 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2017/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hứa Ngọc D, tên gọi khác: Hứa Văn D; Sinh ngày 23 tháng 12 năm 1965

Nơi ĐKHKTT: Tổ 11, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn

Chỗ ở: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 7/10; Con ông Hứa Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ (Đều đã chết); Có vợ là Vũ Thị H và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang chấp hành án trong một vụ án khác. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1969

Trú tại: Tổ 1n, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Hứa Ngọc D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/3/2017, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế- ma túy Công an huyện C bắt quả tang Hứa Ngọc D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Mở rộng điều tra, hồi 13 giờ cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hứa Ngọc D phát hiện và thu giữ: 01 (Một) khẩu súng tiểu liên Mas 38 có ký hiệu 1938 dài 63cm, ổ chứa đạn lắp vừa đạn cỡ 7,65 x 17mm, bắn đạn cỡ 7,65mm; 01 (Một) khẩu súng ngắn tự chế dài 29cm, ổ đạn đường kính 5,7mm, bắn đạn thể thao cỡ 5,6mm; 04 (Bốn) viên đạn dài 80mm, cỡ 8 x 57mm; 02 (Hai) khẩu súng săn và một số bộ phận của súng săn; 01 (Một) khẩu súng ngắn bằng nhựa, loại bắn điện và 07 (Bảy) thiết bị để gắn ở đầu súng điện, vỏ bằng nhựa màu đen và có hình chữ nhật; 01 (Một) dùi cui điện cùng nhiều viên đạn và vỏ đạn các loại.

Tại cơ quan điều tra, Hứa Ngọc D khai nhận:

Khẩu súng tiểu liên Mas 38 có ký hiệu 1938, Hứa Ngọc D có được là do vào khoảng năm 2007 - 2008 trong quá trình nạo vét ao của gia đình tại thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn nhặt được khẩu súng trên trong ao, súng đã hoen gỉ và không có bộ phận tiếp đạn, Hứa Ngọc D đem cọ rửa sạch sẽ rồi mang về cất giấu trong hòm gỗ tại chỗ ở của D tại thôn N, xã Đ, huyện Chợ Đ, tỉnh Bắc Kạn đến nay, D chưa sử dụng lần nào.

Khẩu súng ngắn tự chế dài 29cm, cỡ đạn 5,6mm, Hứa Ngọc D có được là khoảng đầu năm 2016, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 97F1 - 5175 (Xe D mượn của vợ D là Vũ Thị H) đi ra thành phố Bắc Kạn để uống thuốc cai nghiện Methadone, khi đến khu vực đường Thanh Niên thuộc phường S, thành phố Bắc Kạn thì thấy một người đàn ông (không biết họ, tên, địa chỉ) đi bộ mang theo một khẩu súng hơi tự chế, D dừng xe lại nói chuyện và hỏi mua súng.

Quá trình trao đổi, D biết người đàn ông đó còn có một khẩu súng ngắn tự chế dài khoảng 29cm, bắn đạn thể thao nên D đã mua cả hai khẩu súng trên với tổng số tiền là 1.500.000đ  (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong đó khẩu súng hơi có giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), khẩu súng ngắn tự chế có giá 1.000.000đ (Một triệu đồng). Sau khi mua được súng D mang về nhà cất giấu dưới gầm tủ gỗ cạnh giường ngủ của D với mục đích để sử dụng bảo vệ ao cá của gia đình. Tuy nhiên, do lắp không vừa cỡ đạn thể thao nên không sử dụng được.

Đối với 04 (Bốn) viên đạn dài 80mm, D có được là vào năm 1982 D đi dân quân tự vệ nhặt được rồi đem về cất giấu trong tủ gỗ của D với mục đích làm kỷ niệm.

Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn trưng cầu giám định 05 khẩu súng và 19 viên đạn thu giữ của Hứa Ngọc D. Tại kết luận giám định số 2186/C45 ngày 17/5/2017 của Viện khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát, Bộ Công an kết luận.

- 01 khẩu súng có ký hiệu 1938 dài 63cm là súng quân dụng tiểu liên Mas 38, cỡ nòng 7,65mm; 04 viên đạn dài 80mm là loại đạn quân dụng cỡ 8 x 57mm;

01 khẩu súng ngắn dài 29cm là súng bắn đạn tự chế cỡ 5,6mm thuộc loại có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.

- 01 khẩu súng dài 116cm là súng kíp tự chế, thuộc súng săn; 01 khẩu súng dài 105cm là loại súng hơi tự chế, thuộc súng săn không phải vũ khí quân dụng; 06 viên đạn dài 06 viên đạn dài 25mm là loại đạn thể thao cỡ 5,6 x 15,5mm; 03 viên đạn ký hiệu 12 là loại đạn ghém cỡ 12; 06 viên đạn (Trong đó 01 viên đạn dài 63mm, 03 viên dài 54mm, 02 viên dài 46mm) là loại đạn ghém tự chế cỡ 32 đều không phải đạn quân dụng; 01 khẩu súng có số 871072 dài 25cm là súng bắn đạn bi bằng khí nén thuộc đồ chơi nguy hiểm.

- Dấu vết do 05 khẩu súng gửi đến giám định bắn thực nghiệm để lại trên đầu đạn, vỏ đạn không giống với dấu vết để lại trên vỏ đạn, đầu đạn của các vụ án khác hiện đang lưu trong tàng thư súng đạn Viện khoa học hình sự, Bộ Công an.

Ngoài tội danh tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng bị khởi tố, Hứa Ngọc D còn có hành vi không giao nộp 02 khẩu súng săn và một số bộ phận của súng săn; tàng trữ công cụ hỗ trợ vi phạm Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng, chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy và chữa cháy; Phòng, chống bạo lực gia đình. Giám đốc công an tỉnh Bắc Kạn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hứa Ngọc D với số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng). Hứa Ngọc D đã thi hành xong.

Tại bản cáo trạng số 39/KSĐT-MT ngày 04/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hứa Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Phạt bổ sung bằng tiền: Việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của bị cáo không nhằm mục đích mua bán kiếm lời nên không áp dụng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Hứa Ngọc D vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn và Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung vụ án và hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi của bị cáo đã thực hiện.

Bị cáo khai nhận: Khẩu súng Mas 38 và khẩu súng ngắn tự chế bị cáo mua về cất giấu tại chỗ ở của bị cáo, việc tàng trữ nhằm mục đích để bảo vệ ao cá của gia đình, tuy nhiên số súng đạn quân dụng bị thu giữ bị cáo chưa sử dụng lần nào là do không có bộ phận lắp đạn và không lắp vừa cỡ đạn. Lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết quả trưng cầu giám định và các tài liệu, chứng cứ  khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi tàng trữ 02 khẩu súng và 04 viên đạn thuộc danh mục vũ khí quân dụng nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự và có khung hình phạt từ một năm đến bảy năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo Hứa Ngọc D là nghiêm trọng, xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại vũ khí quân dụng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã từng có thời gian phục vụ trong quân ngũ nên nhận thức được tính năng và sự nguy hiển của súng đạn nếu như không được kiểm soát, sử dụng đúng mục đích và cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Năm 1998 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Bản án số 06/HSST ngày 22/4/1998). Bị cáo đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích. Năm 2010, Hứa Ngọc D bị bắt buộc đi cai nghiện tập trung tại thành phố Bắc Kạn, đến năm 2011 thì chấp hành xong và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 19/3/2017 Hứa Ngọc D bị bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 20/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tại thời điểm bị bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (ngày 19/3/2017) bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Phạm tội lần này bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Tại bản án số 39/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt bị cáo Hứa Ngọc D 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Cần áp dụng khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của bản án trước với hình phạt của bản án này, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Quá trình điều tra xác định, việc tàng trữ vũ khí quân dụng của bị cáo không nhằm mục đích mua bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Bao gồm 01 khẩu súng tiểu liên, 01 khẩu súng ngắn tự chế, 04 viên đạn thuộc danh mục vũ khí quân dụng, giao cho Ban chỉ huy Quân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn quản lý, xử lý theo thẩm quyền.

Đối với người đàn ông đã bán khẩu súng ngắn tự chế cho Hứa Ngọc D tại phường S, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, quá trình điều tra bị cáo không cung cấp được họ, tên, tuổi, địa chỉ người đàn ông đó nên Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn không có cơ sở điều tra xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 97F1 - 5175 đầu năm 2016 bị cáo sử dụng để đi ra thành phố Bắc Kạn uống thuốc cai nghiện Methadone, sau đó mua khẩu súng hơi tự chế của một người đàn ông (Không biết họ, tên, địa chỉ) rồi buộc vào xe máy và mang về nhà cất giấu, quá trình điều tra xác định chủ chiếc xe mô tô trên là bà Vũ Thị H (Vợ bị cáo), việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô để chở súng từ thành phố Bắc Kạn về nhà cất giấu bà H không biết nên Cơ quan an ninh điều tra không có căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm đối với bà H. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97F1-5175 của bà H đã được xử lý trong vụ án khác.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hứa Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 230; điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Hứa Ngọc D 15 (Mười lăm) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 39/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 08 (Tám) năm 09 (Chín) tháng tù về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam được xác định là ngày 19/3/2017.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và giao cho Ban chỉ huy quân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn quản lý, xử lý theo thẩm quyền các vật chứng sau: 01 (Một) khẩu súng tiểu liên Mas 38 có ký hiệu 1938, dài 63cm; báng súng bằng gỗ; nòng, cò, thân súng bằng kim loại màu đen đã hoen gỉ; 01 (Một) khẩu súng ngắn tự chế dài 29cm, súng đã qua sử dụng; 04 (Bốn) viên đạn dài 80mm

(Tình trạng những vật chứng  theo  Biên bản  giao nhận  vật chứng  ngày 20/9/2017 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thihành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và  lệ  phí;  Khoản 1 ĐIều  21,  điểm  a  khoản  1  Điều  23  Nghị  quyết  số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hứa Ngọc D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án Dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành bản án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


369
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về