Bản án 45/2015/HNGĐ-PT ngày 17/12/2015 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 45/2015/HNGĐ-PT NGÀY 17/12/2015 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 

Ngày 17 tháng 12 năm 2015 tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2015/HNGĐ-PT ngày 09 tháng 01 năm 2015 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2014/HNGĐ-ST ngày 06/05/2014 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1300/2015/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Chu Đức Sắng, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Số 382, đường Nguyễn Công Hãng, tổ dân phố Chi Ly 1, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; có mặt.

* Bị đơn: Bà Hoàng Thị Bằng, sinh năm 1962;

Địa chỉ: Thôn Hố Cao, Hương Sơn, Lạng Giang, Bắc Giang; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Chu Văn Thưởng, sinh năm 1988; quê quán: Hố Cao, Hương Sơn, Lạng Giang, Bắc Giang; hiện đang ở tại Cộng hòa Sip; vắng mặt (ủy quyền cho ông Chu Đức Sắng).

2. Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang: ông Nghiêm Phú Sơn là Phó trưởng phòng Phòng tài nguyên môi trường đại diện theo ủy quyền (có đơn xin xử vắng mặt).

3. Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn: ông Phạm Văn Trung là Chủ tịch  Ủy ban nhân dân xã đại diện (có đơn xin xử vắng mặt).

4. Chị Nguyễn Thị Trà, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Số 182 phố Thanh Xuân, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

NHẬN THẤY

Tại đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Chu Đức Sắng trình bày: Ông và bà Hoàng Thị Bằng kết hôn với nhau vào năm 1979 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang. Sau khi cưới, ông bà chung sống hạnh phúc. Năm 1982 ông đi bộ đội, thường xuyên xa nhà vợ chồng không có mâu thuẫn. Đến năm 2003 ông chuyển về Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bắc Giang và chuyển lên Quân khu I thì tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, ông không hiểu nguyên nhân tại sao, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Năm 2007 vợ chồng ông sống ly thân từ đó tới nay. Xét tình cảm vợ chồng không còn, ông xin ly hôn bà Hoàng Thị Bằng.

Về con chung: có 02 con chung là Chu Thị Thu, sinh năm 1984 và Chu Văn Thưởng, sinh năm 1988, hiện đã trưởng thành không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản: vợ chồng có 1 nhà đất tại Hố Cao, xã Hương Sơn nhưng hiện nay đang có tranh chấp với gia đình ông Long, bà Bền (là hàng xóm, hiện đất đã bị Chủ tịch UBND huyện Lạng Giang ra Quyết định thu hồi GCNQSD đất) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với nhà đất này. Về nợ chung ông Chu Đức Sắng yêu cầu giải quyết các khoản tiền vợ chồng nợ chung tổng cộng là 2.208.714.000 đồng. Ngày 23/8/2013, Tòa án đã có văn bản thông báo về việc thụ lý vụ án bổ sung đối với 14 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, sau đó ông Sắng lại không yêu cầu giải quyết về số nợ, này và tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu giải quyết khoản tiền đã cho ông Sắng vay trong vụ án này.

Bị đơn, bà Hoàng Thị Bằng trình bày: Bà và ông Sắng kết hôn với nhau vào năm 1979, đến ngày đi đăng ký kết hôn thì ông Sắng ốm nên không đăng ký được. Từ khi kết hôn vợ chồng ông bà hầu như không có mâu thuẫn gì, đến năm 2002 ông Sắng có quan hệ bất chính với chị Đồng Thị Thành ở khu Cầu Chui, thành phố Bắc Giang nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Ông bà đã ly thân từ năm 2008 đến nay. Ông Sắng xin ly hôn bà không đồng ý, nếu muốn ly hôn ông Sắng phải lo cho bà chỗ ở ổn định thì bà mới nhất trí.

Về con chung: có 02 con như ông Sắng khai, bà không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản: vào khoảng năm 2006-2007 vợ chồng ông bà có mua của chị Trần Thị Ánh Minh và anh Tùng 1 thửa đất có diện tích 225m2 tại khu Dốc Má, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang. Khi mua bán các bên chỉ làm giấy tờ viết tay với nhau, không thông qua chính quyền địa phương. Khoảng cuối năm 2007, đầu năm 2008 bà làm giấy tặng cho con trai là anh Chu Văn Thưởng thửa đất này vì sợ ông Sắng bán. Nhưng sau đó anh Thưởng đi nước ngoài học nên năm 2010 bà đã làm đơn gửi UBND xã Hương Sơn xin hủy việc tặng cho, nhưng sau đó anh Thưởng đã chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Trà. Hiện nay bà không có bất kỳ giấy tờ gì chứng minh cho việc mua bán chuyển nhượng, tặng cho đất và chưa được cấp GCNQSD đất. Bà Bằng đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa anh Thưởng với chị Trà để trả lại đất cho bà và ông Sắng, bà xin nhận đất, chia cho ông Sắng bằng tiền.

Ngày 31/3/2014, bà Hoàng Thị Bằng có đơn yêu cầu bổ sung và trình bày: bà và ông Sắng còn mua 1 nhà diện tích 39,7m2 ở ngõ 4, Chi Ly 1 vào năm 2007 với giá 120.000.000 đồng, sau đó được cấp GCNQSD đất mang tên ông Sắng nhưng bà không biết nên không khiếu nại gì. Nhà này ông Sắng đã bán cho ai, từ bao giờ bà không biết, bà chỉ nghe con trai nói lại là bán được 150.000.000 đồng. Nay bà không yêu cầu chia nhà đất này nhưng đề nghị phân chia số tiền 150.000.000 đồng.

Đối với thửa đất đang có tranh chấp với gia đình ông Long, bà Bền, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Chu Văn Thưởng trình bày: Sau khi bố mẹ anh ly thân thì mẹ anh đã làm thủ tục tặng cho anh thửa đất có diện tích 225m2 mà trước đó bố mẹ anh đã nhận chuyển nhượng, mẹ anh còn giúp anh làm thủ tục chuyển nhượng trực tiếp từ chị Ánh Minh sang tên anh, có xác nhận của UBND xã Hương Sơn. Như vậy thửa đất này thuộc quyền quản lý của anh, anh không đồng ý phân chia.

Chị Nguyễn Thị Trà trình bày: Năm 2010 chị mua của anh Chu Văn Thưởng 225m2 đất ở khu Dốc Má, xã Hương Sơn với giá 148.000.000 đồng, do ông Sắng được anh Thưởng ủy quyền bán. Trước khi mua chị có xem giấy tờ mua bán gốc giữa vợ chồng anh Tùng chuyển nhượng cho anh Thưởng. Sau khi mua, chị đã nộp hết giấy tờ cho UBND xã. Nay bà Bằng yêu cầu đòi lại đất, chị đồng ý trả lại nhưng yêu cầu phải trả cho chị 148.000.000 đồng tiền gốc mà chị đã trả cho ông Sắng và tính lãi suất của khoản tiền này theo quy định từ năm 2010 đến nay.

UBND xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang trình bày: Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 01, diện tích 225m2 tại thôn Kép 11, xã Hương Sơn thuộc loại đất rừng sản xuất, do nhà nước quản lý. Các hộ gia đình cá nhân không được chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho, góp vốn, thừa kế, bảo lãnh… khi chưa được cấp GCNQSD đất. Hiện nay xã chỉ lưu giữ Đơn xin chuyển nhượng QSD đất giữa chị Trần Chị Ánh Minh với anh Chu Văn Thưởng và đơn xin chuyển nhượng đất lâm nghiệp giữa anh Chu Văn Thưởng với chị Nguyễn Thị Trà.

UBND huyện Lạng Giang trình bày: Diện tích 225m2 đất tại thửa số 12, tờ bản đồ 01 nguồn gốc ban đầu là của ông Đặng Thái Sơn sử dụng mục đích là đất lâm nghiệp. Sau đó ông Sơn cho bà Đặng Thị Thủy, ông Nguyễn Văn Hiệu canh tác sử dụng. Bà Thủy, ông Hiệu lại chuyển nhượng diện tích này cho bà Đào Thị Vạn, ông Chu Hồng Dương, sau đó bà Vạn, ông Dương chuyển nhượng lại cho ông Trần Đức Chính, bà Đặng Thị Mười. Ngày 24/8/2007 ông Chính, bà Mười cho con gái là chị Trần Thị Ánh Minh, chị Minh chuyển nhượng cho anh Thưởng. Đến ngày 28/6/2010 anh Thưởng chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị Trà.

Qua kiểm tra hồ sơ địa chính thì tại xã Hương Sơn không có bản đồ theo dõi thửa đất số 12, tờ bản đồ số 01. Theo bản đồ đo đạc địa chính năm 2009 thì diện tích 225m2 đất nêu trên nằm trong thửa đất số 14 có tổng diện tích là 1331,7m2, tờ bản đồ số 103 của xã Hương Sơn. Đến nay, phần diện tích đất này chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cấp GCNQSD đất và chưa được cơ quan nhà nước cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng. Việc chuyển nhượng 225m2 đất nêu trên giữa anh Thưởng và chị Trà là không đúng quy dịnh của pháp luật.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2014/HNGĐ-ST ngày 06/5/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã quyết định: áp dụng các Điều 27, 28, 32, 89, 91, 95, 104 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 80, 83, 130, 131, 140, 142, 199, 202, 243, 245 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 127, 129, 137, 138, 467 của Bộ luật dân sự; Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Quyết định:

- Về quan hệ vợ chồng: Ông Chu Đức Sắng được ly hôn bà Hoàng Thị Bằng.

- Về tài sản: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng diện tích 225m2 đất lâm nghiệp ở Dốc Má, Kép II, Hương Sơn, Lạng Giang, Bắc Giang giữa bà Hoàng Thị Bằng với anh Chu Văn Thưởng: Hợp đồng chuyển nhượng diện tích 225m2 đất lâm nghiệp ở Dốc Má, thôn Kép II, Hương Sơn, Lạng Giang, Bắc Giang giữa anh Chu Văn Thưởng và chị Nguyễn Thị Trà là các hợp đồng dân sự vô hiệu. Buộc chị Nguyễn Thị Trà phải trả lại 225m2 đất lâm nghiệp ở Dốc Má, thôn Kép II, xã Hương Sơn, Lạng Giang, Bắc Giang cho bà Hoàng Thị Bằng.

Tạm giao cho bà Hoàng Thị Bằng 225m2 đất ở khu Dốc Má, thôn Kép, xã Hương Sơn (là một phần đất nằm trong diện tích 1331,7m2) tại thửa số 14, tờ bản đồ số 103 của xã Hương Sơn, Lạng Giang, Bắc Giang nhưng phải chia tiền chênh lệch về tài sản cho ông Chu Đức Sắng là 100.000.000 đồng.

Bà Hoàng Thị Bằng có quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ông Chu Đức Sắng được nhận 100.000.000 đồng do bà Hoàng Thị Bằng chia về tiền lênh lệch về tài sản.

Buộc anh Chu Văn Thưởng phải trả lại chị Nguyễn Thị Trà 148.000.000 đồng là tiền chị Trà đã trả khi nhận chuyển nhượng đất và phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Trà 54.500.000 đồng là thiệt hại thực tế của chị Trà do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất bị vô hiệu, tổng cộng 202.500.000 đồng.

Bác yêu cầu chia số tiền 150.000.000 đồng bán nhà ở ngõ 4, Chi Ly 1, thành phố Bắc Giang của bà Hoàng Thị Bằng với ông Chu Đức Sắng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/5/2014, ông Chu Đức Sắng kháng cáo đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm về chia tài sản và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử lại.

Ngày 21/5/2014, bà Hoàng Thị Bằng kháng cáo đề nghị bác đơn xin ly hôn của ông Chu Đức Sắng; xác định tiền bán đất 150.000.000đồng là tài sản chung của vợ chồng.

Ngày 21/5/2014, anh Chu Văn Thưởng kháng cáo đề nghị hủy một phần bản án về phân chia tài sản và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Chu Đức Sắng giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Tình cảm vợ chồng giữa ông và bà Bằng không còn, cả hai đã ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng. Bà Bằng níu kéo ông chỉ nhằm vào tài sản, ông đã nghỉ hưu mức lương không đảm bảo cuộc sống, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm về tình cảm, hủy phần tài sản để giải quyết lại.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa về quá trình giải quyết vụ án:

- Anh Thưởng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang học tập, làm việc tại Singapore, các giấy tờ đứng tên anh từ nước ngoài gửi về không đảm bảo tính pháp lý nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chấp nhận để giải quyết vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của anh Thưởng.

- Việc tặng cho anh Thưởng diện tích 225m2 ở thôn Kép II xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, Bắc Giang là có sự thống nhất của vợ chồng ông Sắng, bà Bằng. Bà Bằng viết giấy tặng cho đất, ông Sắng làm thủ tục chuyển nhượng đất cho chị Trà. Tại phiên tòa hôm nay ông Sắng vẫn giữ nguyên việc tặng cho anh Thưởng đất. Như vậy việc tặng cho anh Thưởng đất  không phải một mình bà Bằng như Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá và kết luận việc tặng cho đất là vô hiệu.

- Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, anh Thưởng đã trưởng thành, không ủy quyền cho ông Sắng tham gia tố tụng trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh Thưởng do ông Chu Đức Sắng đại diện phải bồi thường cho chị Trà 202.500.000 đồng là không đúng.

- Ông Sắng mua ngôi nhà số 4 Chi Ly 1, thành phố Bắc Giang trong thời kỳ ly thân bà Bằng, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đứng tên ông Sắng, bà Bằng yêu cầu chia 150 triệu đồng do ông Sắng bán nhà này là không đúng.

 - Trong Biên bản nghị án; không giải quyết yêu cầu của bà Bằng chia 150 triệu đồng do ông Sắng bán nhà số 4 Chi Ly 1, thành phố Bắc Giang. Trong Bản sơ thẩm tuy có nhận định yêu cầu chia tài sản chung của bà Bằng đối với 150 triệu đồng do ông Sắng bán nhà số 4 Chi Ly 1, thành phố Bắc Giang, trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm không quyết định phân chia số tiền bán nhà số 4 Chi Ly cho Nguyên đơn. Tuy nhiên, trong thông báo sửa chữa, bổ sung bản án lại có nội dung giải quyết yêu cầu này là không đúng. Những vi phạm nghiêm trọng của Tòa án cấp sơ thẩm cả về hình thức và nội dung tại phiên tòa phúc thẩm không khắc phục được, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, tranh luận của bên đương sự, ý kiến của kiểm sát viên:

XÉT THẤY

Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên tòa nhiều lần nhưng bà Hoàng Thị Bằng đều vắng mặt. Ngày 16/12/2015 bà Bằng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, anh Chu Văn Thưởng có đơn xin xử vắng mặt và ủy quyền cho ông Chu Đức Sắng tham gia tố tụng, Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn, Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án:

- Anh Chu Văn Thưởng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đang làm việc tại nước ngoài, trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án anh Thưởng có đơn đề nghị vào các ngày 30/5/2012; ngày 20/6/2012 gửi Tòa án có xác nhận của trường Anerican College. Đơn xin vắng mặt từ nước ngoài gửi về chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa vụ án ra xét xử là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.

Về kháng cáo của đương sự: ông Sắng bà Bằng xác lập quan hệ vợ chồng năm 1979 trên cơ sở tự nguyện nhưng không có giấy kết hôn mà ông Sắng có yêu cầu ly hôn. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 của Quốc Hội hướng dẫn việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết ly hôn là đúng pháp luật.

 Sau khi kết hôn vợ chồng ông Sắng, bà Bằng sống hạnh phúc, có 2 con chung là chị Chu Thị Thu và anh Chu Văn Thưởng đã trưởng thành. Do phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đều nghi ngờ nhau có quan hệ với người khác. Khoảng cuối năm 2007 đầu năm 2008 ông Sắng, bà Bằng đã ly thân; bà Bằng xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, bà không níu kéo ông Sắng và đồng ý ly hôn khi ông Sắng lo cho bà nhà đất để ổn định chỗ ở. Tòa án cấp sơ thẩm xét mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đã xử cho ông Chu Đức Sắng được ly hôn bà Hoàng Thị Bằng là đúng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Bằng.

Về tài sản chung: Năm 2007 bà Bằng viết giấy tặng cho anh Chu Văn Thưởng (con chung của ông bà) 225m2 đất lâm nghiệp ở Dốc Má, thôn Kép II, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Khi tặng cho ông Sắng không biết, nhưng sau đó ông Sắng đã biết và không có ý kiến gì. Khi anh Thưởng chuyển nhượng đất cho chị Nguyễn Thị Trà, ông Sắng trực tiếp chuyển nhượng diện tích 225m2 đất nêu trên là tài sản chung của ông bà cho chị Nguyễn Thị Trà.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Sắng vẫn giữ nguyên ý kiến trên. Như vậy việc tặng cho con chung 225m2 đất lâm nghiệp ở Dốc Má, thôn Kép II xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang là có sự thống nhất của ông Sắng và bà Bằng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định chỉ có một mình bà Bằng tặng cho để quyết định hợp đồng tặng cho là vô hiệu là không đúng.

Anh Chu Văn Thưởng đã trưởng thành, có năng lực pháp luật dân sự, anh Thưởng không ủy quyền cho ông Sắng đại diện cho anh Thưởng tham gia tố tụng vụ án, nhưng khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Tòa án cấp sơ thẩm lại quyết định ông Chu Đức Sắng người đại diện cho anh Thưởng phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Trà số tiền 202.500.000 đồng là không đúng.

Trong biên bản nghị án của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án không thảo luận giải quyết yêu cầu của bà Bằng đối với số tiền 150.000.000 đồng là tiền do ông Sắng bán nhà số 4 Chi Ly 1, thành phố Bắc Giang và trong phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng không quyết định phân chia số tiền bán nhà 150.000.000 đồng cho nguyên đơn, bị đơn.

Tuy nhiên, sau khi đã giao bản án sơ thẩm đến người nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thì Tòa án cấp sơ thẩm lại có Thông báo số 09/TB-TA ngày 18/5/2014 về việc sữa chữa bổ sung bản án với nội dung là: “Bác yêu cầu chia số tiền 150.000.000 đồng bán nhà ở ngõ 4, Chi Ly 1, thành phố Bắc Giang của bà Hoàng Thị Bằng với ông Chu Đức Sắng”.

Việc thông báo sửa chữa, bổ sung bản án của Tòa án cấp sơ thẩm tại Thông báo số 09/TB-TA ngày 18/5/2014 là không đúng quy định của pháp luật.

Kháng cáo của ông Chu Đức Sắng, của anh Chu Văn Thưởng là có căn cứ được chấp nhận.

Hội đồng xét xử thấy cần hủy một phần bản án sơ thẩm về phần tài sản để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Về án phí:

Do hủy bản án sơ thẩm, các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào các khoản 1 và 3 Điều 275; Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT  ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị Bằng.

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Chu Đức Sắng.

Chấp nhận kháng cáo của anh Chu Văn Thưởng.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 09/2014/HNGĐ-ST ngày 06/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc ông Chu Đức Sắng được ly hôn bà Hoàng Thị Bằng.

- Hủy một phần Bản án sơ thẩm số 09/2014/HNGĐ-ST ngày 06/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về phần tài sản.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết lại phần tài sản theo đúng quy định của pháp luật.

- Về án phí: Căn cứ Điều 30 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án

Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


151
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 45/2015/HNGĐ-PT ngày 17/12/2015 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

      Số hiệu:45/2015/HNGĐ-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:17/12/2015
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về