Bản án 445/2019/HSPT ngày 30/07/2019 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 445/2019/HSPT NGÀY 30/07/2019 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 220/2019/TL-HSPT ngày 11 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo Lò Văn S phạm tội “Giết người”; do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2019/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Lò Văn S, sinh ngày 20/8/2000; nơi cư trú: Bản L, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Học sinh (hiện đã bị tạm đình chỉ); trình độ học vấn: 11/12; D tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Đ và bà Lò Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam tại Trại tạm giam của Công an tỉnh Điện Biên từ ngày 28/02/2018 đến ngày 05/10/2018, được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn S: Bà Trần Thị S, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Trong vụ án còn có các bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 20/01/2018, Lò Văn S, sinh năm 2000, trú tại: Bản X, xã B, huyện M và Quàng Văn Th, sinh năm 1999, trú tại bản C cùng xã, cả hai đi một xe máy biển kiểm soát 27B1-520.50 đến dự sinh nhật tại nhà của Quàng Thị T ở bản I, xã N, huyện M. Khoảng 23 giờ cùng ngày, mọi người ra về. Lò Thị Y, trú tại bản Hiệu 2, xã C, huyện T đèo S đi bằng xe của Y, Th đi xe máy một mình và cất chiếc mũ bảo hiểm xe máy loại nửa đầu màu đỏ vào trong cốp xe và để chiếc mũ bảo hiểm xe máy loại trùm kín cả cằm nhãn hiệu INDEX màu đỏ của S ở giữa xe rồi điều khiển xe cùng đi về hướng xã B. Lò Văn S, sinh ngày 20/8/2000, trú tại bản L, xã N ở cổng nhà T chuẩn bị đi về, S (N) nghe thấy S (B) ngồi sau xe Y chửi D N. Sau đó, Lò Văn S (N) cùng Lò Văn T1, sinh ngày 26/3/2001, Lò Văn H và Lò Văn C, đi về hướng trung tâm xã N. S (N), T1, H đi cùng một xe máy của H do T1 điều khiển, C đi một mình một xe. Trên đường về S (N) nghe H và C nói chuyện với nhau về việc S (B) lúc ở trong nhà nói nhiều. S (N) nảy ra ý định quay lại đuổi theo để đánh S (B) và Th. S (N) vỗ vỗ tay vào vai và kéo giật áo Lò Văn T1 đang điều khiển xe máy. T1 hiểu ý của S (N) là muốn đánh S (B) và Th. T1 dừng xe bảo H xuống xe rồi chở S (N) quay ngược lại đuổi theo để đánh S (B) và Th, mục đích đánh cảnh cáo cho S (B) và Th. Trên đường đi, S (N) nói với T1 “nếu đuổi kịp thì đánh, không kịp thì thôi”. Lúc này, Y, S (B) và Th đi được một đoạn đường, Y bảo S (B) sang xe của Th, S (B) sang xe của Th, Y điều khiển xe một mình đi trước. S (B) đội chiếc mũ bảo hiểm loại trùm kín đầu nhãn hiệu INDEX màu đỏ mở kính lên và điều khiển xe máy đèo Th. S (N) và T1 đuổi theo đến đoạn đường liên xã thuộc địa phận bản Pá Nặm, xã Mường Lạn, huyện M thì S (N) và T1 nhìn thấy S (B) và Quàng Văn Th đang dắt xe ở vũng nước, T1 và S điều khiển xe vượt qua khoảng 100 mét dừng xe lại, xuống xe, chờ S (B) và Th đến để đánh. T1 quay đầu xe máy ngược lại về hướng xã N, S (N) lấy khẩu trang ở túi áo của T1 đeo che mặt đứng chờ. Xe máy của S (B) và Th đi gần tới, qua ánh đèn pha xe máy, S (N) nhổ 01 đoạn cọc rào bằng gỗ tròn có chiều dài 166cm, đường kính từ 04 - 05cm ở hàng rào bên phải đường, đứng chờ xe S và Th đến đánh. Khi xe của S (B) và Th tới nơi, T1 hô “dừng lại”, xe của S (B) và Th vẫn tiếp tục đi vượt qua T1 đến chỗ S (N). S (N) dùng hai tay cầm cây cọc rào ở phần phía trên của cọc rào vụt mạnh theo chiều hướng từ dưới lên trên, từ phải sang trái tầm ngang cổ của S (N) trúng vào vùng mặt bên trái của S đang đội chiếc mũ bảo hiểm INDEX mở kính làm xe của S (B) và Th mất lái ngã xuống rãnh ở cạnh đường, Th ngồi sau ngã ra trước cách xe khoảng 3m, S (B) ngã cùng với xe xuống rãnh ở cạnh đường, mũ bảo hiểm S (B) đội bị vỡ phần ốp giữ kính bên trái và rơi xuống đường. Cây cọc rào S (N) dùng để vụt bị gẫy làm nhiều đoạn, trên hai tay của S còn cầm hai đoạn, S vứt đoạn cầm ở tay phải xuống đất, còn lại một đoạn dài 50cm, đường kính 5cm S cầm ở tay trái chuyển sang cầm ở tay phải. Qua ánh sáng từ đèn hậu của xe máy S (B) và Th, S (N) nhìn rõ S (B) đang quỳ dưới rãnh phía sau xe máy bị đổ, cúi người và hai tay ôm lấy sau đầu, S (N) tiến đến chỗ S (B) cầm gậy bằng tay phải đánh một phát từ trên xuống dưới vào phần lưng của S (B), S (B) nằm sấp xuống rãnh. S (N) quay sang nhìn thì thấy Th đang đứng ở mép đường cúi đầu khom người, mặt hướng sang bên kia đường hai tay chắp ra trước ngực nói “thôi, thôi các anh ơi”. S (N) vẫn cầm đoạn gậy ở tay phải và tiến về phía Th đứng, Th quay đầu sang trái về phía S (N), S (N) cầm đoạn gậy gỗ vụt theo chiều ngang hướng từ phải sang trái trúng vào đầu của Th làm Th loạng choạng về phía rãnh, S (N) tiếp tục dùng chân phải đạp vào người Th không trúng, Th ngã xuống rãnh. Th nhổm người đứng lên, Lò Văn T1 chạy đến đấm 02 phát vào má phải và đạp 01 phát vào bụng của Th. Sau đó, S (N) và T1 điều khiển xe đi về. Th gọi điện thoại báo cho bạn Lường Văn D, trú tại bản T, xã N, huyện M. D cùng với Cà Văn C, Lò Văn H1 cùng bản đến chỗ S (B) và Th, thấy Th đang ngồi dưới rãnh bên đường, S (B) nằm gối đầu lên đùi Th khóc, gần đó có chiếc mũ bảo hiểm INDEX màu đỏ bị vỡ bên trong có một chiếc khẩu trang. D cùng các bạn đưa Th và S (B) về nhà anh trai Quàng Văn X ở bản C, xã B, huyện M, bỏ lại mũ bảo hiểm và khẩu trang. Đến nhà, Th lấy nước lau mặt cho S rồi tiễn D, C, H1 về, Th lên nhà ngủ. Sáng ngày 21/01/2018, gia đình thấy Th bị bất tỉnh đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên đến ngày 26/01/2018 thì tử vong. S được đưa đi điều trị tại Trung tâm Y tế huyện T từ ngày 21/01/2018 đến ngày 26/01/2018 xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về T tích số 11/TT ngày 06/02/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Điện Biên xác định: Nguyên nhân Quàng Văn Th chết là do chấn T sọ não.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về T tích số 04 ngày 05/02/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Điện Biên kết luận: Các dấu vết T tích để lại trên thân thể Lò Văn S phù hợp với đặc điểm hình thành dấu vết T tích do tác động ngoại lực của vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn T cơ thể do T tích gây nên cho Lò Văn S, hiện tại là 16% (mười sáu phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về vật gây T tích số 05 ngày 06/02/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Điện Biên kết luận: Các đoạn gỗ và mảnh gỗ do Cơ quan CSĐT Công an huyện M gửi giám định có thể gây nên các T tích cho Lò Văn S và phù hợp với đặc điểm hình thành dấu vết T tích do tác động của ngoại lực của vật tày gây nên cho Lò Văn S.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về vật gây T tích số 12 ngày 06/02/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Điện Biên kết luận: Các đoạn gỗ và mảnh gỗ gửi giám định có thể gây nên các T tích cho Quàng Văn Th và phù hợp với đặc điểm hình thành dấu vết T tích do tác động của ngoại lực của vật tày gây nên cho Quàng Văn Th. Với đặc điểm đoạn gậy gỗ dài hơn 40cm và đường kính khoảng 04cm đến 05cm như trong lời khai của Lò Văn S, sinh năm 2000, trú tại bản L, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên có thể gây nên các T tích cho Quàng Văn Th và phù hợp với đặc điểm hình thành dấu vết T tích do tác động của ngoại lực của vật tày gây nên cho Quàng Văn Th.

Tại Bản kết luận giám định số 3886/C54(P4) ngày 27/7/2018 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Đất bám trên đoạn gỗ hình trụ tròn, đã khô, hai đầu gãy vát nham nhở, dài 43cm, đường kính 06cm (ký hiệu M01) gửi giám định cùng loại với đất thu tại vị trí lỗ cọc rào tại hiện trường.

Tại Bản kết luận giám định số 3882/C54(P3) ngày 04/8/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 05 (năm) đoạn gỗ ký hiệu M01, M02, M03, M04, M05 thu tại hiện trường gửi giám định gãy ra từ một đoạn gỗ dài 166cm (Bút lục số 338).

Tại Bản kết luận giám định số 4653/C09(TT3) ngày 29/8/2018 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 05 (năm) đoạn gỗ, mảnh gỗ (ký hiệu từ M01 đến M05) thu tại hiện trường là cùng loại gỗ.

Tại Bản kết luận giám định số 3868/C09(TT3) ngày 21/8/2018 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Trên chiếc khẩu trang gửi giám định có bám dính máu người và là máu của Lò Văn S (sinh năm 2000, trú tại bản X, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên).

Tại Văn bản số 35/TTPY-GĐTH ngày 13/7/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Điện Biên đã trả lời: Vùng hàm mặt, vùng bụng của Quàng Văn Th không có dấu vết T tích, không có tổn T xương hàm mặt, do vậy không có cơ sở để đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc đấm vào mặt, đá vào bụng dẫn đến tử vong.

Tại Văn bản số 1457/C09-TT1 ngày 17/10/2018 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an trả lời: Không có cơ sở để xác định hành vi dùng tay đấm 02 phát vào mặt và dùng chân đạp vào bụng Quàng Văn Th của Lò Văn T1 có tác động, ảnh hưởng như thế nào đến nguyên nhân chết của Th.

Tại Văn bản số 813/GĐ-PC54 ngày 30/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên về việc xác định mẫu vật gửi giám định đã kết luận: Mảnh nhựa màu đỏ kích thước (12,5 x 6,5)cm ở giữa có lỗ tròn là ốp nhựa giữ kính bên trái của mũ bảo hiểm môtô, xe máy nhãn hiệu INDEX.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2019/HSST ngày 29/01/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên quyết định:

Áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm đ khoản 2 Điều 134,các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn S 06 (sáu) năm tù về tội Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây T tích”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo Lò Văn S phải chấp hành hình phạt là 08 (tám) năm tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ, giam từ ngày 28/02/2018 đến ngày 05/10/2018, bị cáo còn phải chấp hành là 07 năm 04 tháng 20 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Lò Văn T1, về trách nhiệm D sự; về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 28/02/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có Quyết định số 17/QĐ-VC1-HS kháng nghị phần áp dụng pháp luật và áp dụng hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đối với Lò Văn S về tội “Giết người”; đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với bị cáo Lò Văn S về hành vi giết người và tăng hình phạt đối với bị cáo Lò Văn S về tội “Giết người” để tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lò Văn S thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Lò Văn S cho rằng hành vi của bị cáo là bột phát, nhất thời phạm tội do sử dụng chất kích thích, không làm chủ được bản thân nên không có căn cứ áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên tâm lý chưa phát triển đầy đủ, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo đã bồi thường một phần cho gia đình bị hại…từ đó cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và xử phạt bị cáo Lò Văn S mức án 06 năm tù về tội “Giết người”, 02 năm tù về tội “Cố ý gây T tích” là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị chuyển khoản và tăng hình phạt đối với bị cáo S về tội “Giết người”; giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo sớm trở về với xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã kết luận: Bị cáo Lò Văn S thừa nhận việc anh Th chết là do bị cáo gây ra trong khi anh Th không có lỗi. Hành vi của bị cáo là vô cớ, thể hiện tính chất côn đồ được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với bị cáo S là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tăng hình phạt đối với bị cáo S về tội “Giết người” và đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là khắc phục hậu quả bồi thường một phần cho gia đình người bị hại, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi để quyết định hình phạt tương xứng đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lò Văn S thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo Lò Văn T1, lời khai của người liên quan; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm tử thi, Bản kết luận giám định pháy y về tử thi số 11/TT ngày 06/02/2018, Bản kết luận giám định pháy y về T tích số 04/TT và 05/TT cùng ngày 06/02/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên; các Bản kết luận giám định số 12 ngày 06/02/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên; Kết luận giám định số 3882 ngày 04/8/2018, Kết luận giám định số 4653 ngày 29/8/2018 và Kết luận giám định số 3886 ngày 27/7/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an; Công văn số 813/GĐ-PC54 ngày 30/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và Công văn số 1475 ngày 17/10/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/01/2018, tại khu vực đường bản Pá Nặm, xã Mường Lạn, huyện M, tỉnh Điện Biên, bị cáo Lò Văn T1 điều khiển xe máy chở bị cáo Lò Văn S đuổi theo, chặn đánh Lò Văn S (B) và Quàng Văn Th. Khi xe máy của S (B) và Th đến gần chỗ bị cáo S và bị cáo T1 đứng chờ, T1 đã hô “dừng xe”, bị cáo Lò Văn S đã dùng gậy gỗ đánh vào vùng mặt phía bên trái của Lò Văn S (B) gây T tích 16% sức khỏe và dùng gậy gỗ đánh một nhát vào phần đầu của Quàng Văn Th, hậu quả là anh Th phải đi cấp cứu đến ngày 26/01/2018 thì bị chết do chấn T sọ não. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã xét xử bị cáo Lò Văn S về tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Cố ý gây T tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Lò Văn T1 về tội “Cố ý gây T tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, tăng hình phạt đối với bị cáo Lò Văn S về tội “Giết người”, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Bị cáo Lò Văn S (N) và anh Quàng Văn Th không có mâu thuẫn, nhưng chỉ vì một nguyên nhân vô cớ là do anh Lò Văn S (B) có lời chửi D N sau buổi sinh nhật chị Quàng Thị T ở bản I, xã N nên bị cáo S đã rủ Lò Văn T1 đuổi theo, chặn đánh S (B). Khi đó, S (B) đang điều khiển xe máy chở anh Quàng Văn Th trên đường đi từ nhà chị T về nhà thì bị S (N) dùng cây cọc rào vụt vào mặt bên trái của S (B) làm xe của S (B) và Th mất lái, ngã xuống đường. Sau đó, bị cáo S dùng đoạn gậy vụt tiếp một phát vào phần lưng của S (B). Lúc này, anh Th đang đứng ở mép đường cúi đầu khom người, chắp tay trước ngực xin bị cáo S không đánh, nhưng bị cáo S vẫn dùng gậy vụt vào đầu anh Th, hậu quả làm anh Th bị chết và S (B) bị T tích 16%.

Như vậy, bị cáo S dùng gậy gỗ đánh vào vị trí trọng yếu của cơ thể anh Th làm anh Th bị chết trong khi anh Th không có lỗi và không liên quan đến việc S (B) chửi D N là hoàn toàn vô cớ, nhằm thỏa mãn sự tức giận mang tính ích kỷ cá nhân. Thực tế khi bị S (N) và Lò Văn T1 chặn xe, đánh; anh Th không có hành vi chống trả lại bị cáo S mà còn có hành động cầu xin bị cáo S không đánh. Hành vi của bị cáo Lò Văn S (N) là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật và tính mạng của người khác nên phạm tội “Giết người” với tình tiết “có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử đối với bị cáo Lò Văn S là áp dụng không đúng pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo Lò Văn S có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo đã bồi thường một phần cho gia đình người bị hại; bị cáo là người D tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên và bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì…. Tuy nhiên, do hành vi của bị cáo S có tính chất côn đồ như đã phân tích nêu trên nên mức án 06 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo S về tội “Giết người” là không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả do bị cáo gây ra. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 tăng hình phạt đối với bị cáo Lò Văn S về tội “Giết người” là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo Lò Văn S không kháng cáo nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng nghị số 17/QĐ-VC1-HS ngày 28/02/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Lò Văn S về tội “Giết người”. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn S 09 (Chín) năm tù về tội “Giết người” và 02 (Hai) năm tù về tội “Cố ý gây T tích”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo Lò Văn S phải chấp hành hình phạt là 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2018 đến ngày 05/10/2018.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lò Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 445/2019/HSPT ngày 30/07/2019 về tội giết người

Số hiệu:445/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về