Bản án 44/2021/HNGĐ-ST ngày 29/06/2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

 BẢN ÁN 44/2021/HNGĐ-ST NGÀY 29/06/2021 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH - LY HÔN, NUÔI CON

 Ngày 29/6/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2021/TLST-HNGĐ ngày 10/3/2021 về việc “tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/5/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/6/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Nơi cư trú hiện nay: Tổ m, ấp m, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị H có mặt, anh C vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Năm 2010 chị H và anh C kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 26/10/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh C thường xuyên uống rượu, không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, khi say rượu anh C còn sử dụng vũ lực với vợ con và xâm phạm danh sự, nhân phẩm của chị H. Chị H đã nhiều lần khuyên can nhưng anh C không sửa đổi. Từ tháng 01/2021 chị H và anh C không còn chung sống với nhau nữa, thời gian xa nhau vẫn không hàn gắn tình cảm được. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị H và anh C có hai con chung tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 02/9/2010 và Trần Phúc T, sinh ngày 16/01/2016. Hiện nay, hai con chung đang sống với chị H. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, anh Trần Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh C không có văn bản trình bày ý kiến và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến việc giải quyết vụ án, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con. Bị đơn, anh Trần Văn C có nơi cư trú tại xã M, thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Văn C, anh C có mặt tại nơi cư trú nhưng anh C vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Văn C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân của chị H và anh C được xác lập vào năm 2010, do anh chị tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh vào ngày 26/10/2010 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị H và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn tình cảm được. Tại phiên tòa, chị H cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh C, anh C không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến nội dung vụ án và không có mặt tại phiên tòa để trình bày ý kiến về quan hệ hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H và anh C có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và sống xa nhau thời gian dài nhưng không hàn gắn tình cảm được, mỗi người có cuộc sống riêng, vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị H được ly hôn với anh C.

[3] Xét con chung: Chị H và anh C có hai con chung tên Trần Thị Quỳnh Như, sinh ngày 02/9/2010 và Trần Phúc Tài, sinh ngày 16/01/2016. Hiện nay, hai con chung đang sống chung với chị H.

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được tiếp tục nuôi hai con chung. Anh C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản ý kiến về con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu N và T từ khi sinh ra đến nay đã sống chung với chị H, có cuộc sống ổn định. Hơn nữa, hai cháu còn nhỏ, cần được sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn và nguyện vọng của cháu Như là muốn được sống chung với chị H nên yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung của chị H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình.

[4] Xét cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa, chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con và xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh C vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Trần Văn C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H, chị H được ly hôn với anh Trần Văn C.

2. Con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H, chị H được tiếp tục nuôi hai con chung tên Trần Thị Quỳnh Như, sinh ngày 02/9/2010 và Trần Phúc Tài, sinh ngày 16/01/2016, hiện hai con chung đang sống chung với chị H.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007741 ngày 08/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, như vậy chị H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Trần Văn C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

142
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2021/HNGĐ-ST ngày 29/06/2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

Số hiệu:44/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về