Bản án 44/2017/HNGĐ-ST ngày 08/12/2017 về ly hôn và nuôi con chung sau ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 44/2017/HNGĐ-ST NGÀY 08/12/2017 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG SAU LY HÔN

Ngày 08/12/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ  án  Hôn nhân và gia đình  thụ lý số  318/2017/TLST–HNGĐ ngày 17/10/2017 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2017/QĐXX-HNGĐ ngày 28/11/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1988. Hiện cư trú tại: Làng L, xã Ngh, huyện Ngh Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt;

2. Bị đơn: Anh Mạnh Trọng H1, sinh năm 1981. Đăng ký HKTT tại: Số 2, tổ 7, khu C, thị trấn XM, huyện C, Thành phố Hà Nội. Hiện đang chấp hành án tại Đội 23 - Phân trại số 6 – Trại giam T L. Địa chỉ: Huyện Nh, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Anh Hà đã có đơn xin giải quyết vắng mặt.

3. Người tham gia tố tụng khác (Do Tòa án triệu tập tham gia tố tụng): Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1953 là mẹ đẻ anh H1. Trú tại: Số 2, tổ 7, khu C, thị trấn XM, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo Đơn khởi kiện xin ly hôn nộp tại Tòa án ngày 03/8/2017 quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa- Nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày:

1.1. Chị tự do tìm hiểu, chung sống với anh Mạnh Trọng H1 từ đầu năm 2013. Đến ngày 13/10/2014, anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn XM, huyện C. Sau khi đăng ký kết hôn, chị và anh H1 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H1 nghiện ma túy nhiều lần gây sự, đánh chửi, đuổi chị đi, anh chị đã sống ly thân từ tháng 01/2015 đến nay. Tháng 01/2017 anh H1 bị bắt và bị xử phạt 18 tháng tù, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam TL. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn với anh H1.

1.2. Về con chung: Chị và anh H1 có 01 con chung là Mạnh Thu A, sinh ngày 26/7/2014.  Hiện do chị trông nom, nuôi dưỡng,  nhưng chị cũng thường xuyên cho cháu A về ở với  bố, mẹ đẻ anh H1 là ông Mạnh Trọng H2 và bà Nguyễn Thị N tại: Số 2, tổ 7, khu C, thị trấn XM, huyện C, Thành phố Hà Nội. Được ly hôn chị xin tiếp tục nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

1.3. Về tài sản chung: Chị và anh H1 không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại bản tự khai ngày 09/11/2017-Bị đơn là anh Mạnh Trọng H1 trình bày:

2.1. Anh chung sống và kết hôn với chị H trên cơ sơ tư nguyên , đăng ky kêt hôn tại UBND xã thị trấn XM đúng như chị H trình bày. Quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn từ tháng 12/2014 và vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai từ tháng 01/2016 đến nay. Nay chị H xin ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn vì anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn. Hiện anh đang chấp hành án phạt tù nên không thể chăm lo gia đình được và cũng không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được.

2.2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung đúng như chị H trình bày. Nếu ly hôn, anh muốn nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

2.3. Về tài sản chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Mạnh Trọng H1 đã có “Đơn đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải” và “Đơn đề nghị xét xử vắng mặt” có xác nhận của Trại giam TL.

3. Người tham gia tố tụng khác do Tòa án triệu tập tham gia tố tụng là bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ anh H1 trình bày:

Anh H1 và chị H chung sống và kết hôn đúng như chị H, anh H1 trình bày, kể từ tháng 01/2016 đến nay bà không thấy chị H và anh H1 chung sống với nhau nữa. Hiện anh hà đang chấp hành án phạt tù, không có điều kiện chăm sóc vợ  con đúng như anh H1 trình bày. Nay chị H xin ly hôn bà đề nghị Tòa án căn cứ nguyện vọng của hai anh chị giải quyết.

Anh H1 và chị H có một con chung và chị H thường xuyên cho con chung ở với gia đình bà đúng như chị H trình bày. Nếu anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh H1.

Giữa anh H1 và chị H không có tài sản chung đúng như anh chị trình bày.

Đi diện VKSND huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Nguyên đơn đã chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã ủy thác thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng.

“Đơn đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải” và “Đơn đề nghị xét xử vắng mặt” của anh H1 có xác nhận của Trại giam TL là đúng quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt anh H1

Về nội dung - Đề nghị xử:

- Chị H được ly hôn anh H1;

- Về con chung: Tiếp tục giao con chung cho chị H được nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H1 cho đến khi có thay đổi khác.

- Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng:

Bị đơn: Anh H1 có hộ khẩu thường trú tại thị trấn XM, huyện C. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có “Đơn đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải” và “Đơn đề nghị xét xử vắng mặt” hợp lệ. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H1 là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc triệu tập bà Nguyễn Thị N (mẹ đẻ của bị đơn) tham gia phiên tòa là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 9 Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H đăng kết hôn với anh H1 ngày 13/10/2014 tại UBND thị trấn XM, tuân thủ các quy định về đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị H và anh H1 phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc vợ chồng ly thân nhiều năm nay. Chị H, anh H1 đều xác định mâu thuẫn không còn khả năng đoàn tụ. Chị H xin ly hôn, anh H1 cũng nhất trí. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị H. Xử cho chị được ly hôn anh H1 là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.2. Về con chung: Chị H, anh H1 cùng xác định có 01 con chung là Mạnh Thu A, sinh ngày 26/7/2014. Sau khi được ly hôn chị H, anh H1 đều đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét: Hiện nay anh H1 đang phải chấp hành án phạt tù chưa có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do các bên không thỏa thuận được về việc nuôi con chung sau ly hôn. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “... trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;..”. Giao con chung Mạnh Thu A cho chị H được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác là phù hợp với quy định pháp luật.

Do chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H1 cho đến khi có quyết định thay đổi khác.

Anh H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.3. Về tài sản chung: Chị H và anh H1 đều xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 điều 147 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Ý kiến đề nghị của đai diên Viên kiêm sat  huyên Chương My tại phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp với nhận định của Hôi đông xet xư.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cư vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 và các Điều 228, 266, 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 và các Điều: 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chị Phan Thị H được ly hôn với anh Mạnh Trọng H1.

2. Về nuôi dưỡng con chung sau ly hôn:

2.1. Giao con chung là Mạnh Thu A, sinh ngày 26/7/2014 cho chị Phan Thị H được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

2.2. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Phan Thị H. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Mạnh Trọng H1 cho đến khi có quyết định thay đổi khác;

2.3. Anh Mạnh Trọng H1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & gia đình không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phan Thị H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự về phần ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹtheo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số A A/2015/0003024 ngày 17/10/2017.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

573
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2017/HNGĐ-ST ngày 08/12/2017 về ly hôn và nuôi con chung sau ly hôn

Số hiệu:44/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chương Mỹ - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về