Bản án 44/2017/DS-ST ngày 31/05/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO-TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 44/2017/DS-ST NGÀY 31/05/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 31 tháng 5 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2017/QĐXX-ST ngày 18 tháng 5 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V

Địa chỉ: 72 phố Đ, phường N, quận H K, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: ông Ngô C D - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Thái V, sinh năm 1988

Địa chỉ: G1-55 đường số 7, khu dân cư PA, phường T, quận R, Thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Bà Nguyn Lê Kim T, sinh năm 1985

Địa chỉ: 28/1 Đ, phường N, Tp M, tỉnh Tiền Giang.

(có mặt hai bên đương sự)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 07/3/2017, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP V ( gọi tắt là Ngân hàng V) ủy quyền cho ông Trần Thái V trình bày: vào ngày 30/01/2013 bà Nguyễn Lê Kim T có ký hợp đồng tín dụng số 20130130-114055-0001 với Ngân hàng V để vay số tiền 24.603.600 đồng, với lãi suất là 5,15% tháng, mục đích vay tiêu dùng có nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng thì bà T thanh toán tiền vốn gốc và lãi là 38.425.000 đồng, trả trong thời hạn 18 tháng, 17 tháng đầu mỗi tháng trả 2.130.000 đồng, tháng cuối trả 2.215.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 tây hàng tháng, bắt đầu từ tháng 01/3/2013. Sau khi ký hợp đồng bà T đã nhận đủ tiền và thanh toán lại được 7 lần với số tiền là 19.220.000 đồng, sau đó thì ngưng không thanh toán cho đến nay. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền vốn và lãi còn nợ lại là 19.205.000 đồng, trả một lần ngày khi án có hiệu lực pháp lụât.

Tại bản tự khai ngày 09/5/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Lê Kim T trình bày: bà T thừa nhận có vay của Ngân hàng V số tiền vốn và lãi là 38.425.000 đồng, trả trong thời hạn 18 tháng, 17 tháng đầu mỗi tháng trả 2.130.000 đồng, tháng cuối trả 2.215.000 đồng. Sau khi vay bà đã trả được số tiền là 21.22.000 đồng, hiện còn nợ lại 17.205.000 đồng chứ không phải là 19.205.000 đồng như ngân hàng khởi kiện. Nay bà đồng ý trả số tiền trên nhưng do hoàn cảnh khó khăn bà xin trả dần mỗi tháng là 1.000.000 đồng.

Tại phiên hòa giải ngày 18/5/2017đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V ông Trần Thái V đồng ý giảm nợ gốc và lãi cho bà Nguyễn Lê Kim T còn 11.292.689 đồng nếu bà T trả số tiền một lần vào ngày 18/6/2017.

Bà T cũng đồng ý trả số tiền 11.292. 689 đồng cho Ngân hàng V một lần vào ngày 18/6/2017.

Nhưng Ngân hàng V không đồng ý ký biên bản hòa giải thành mà yêu cầu đưa ra xét xử bằng một bản án.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V ông Trần Thái V yêu cầu bà T trả cho Ngân hàng số tiền 17.205.000 đồng, trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Bà T đồng ý trả cho Ngân hàng V số tiền 17.205.000 đồng nhưng xin trả mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP V căn cứ hợp đồng tín dụng số 20130130-114055-0001 để khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Lê Kim T trả số tiền vốn và lãi là 19.205.000 đồng đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại khoản 3 điều 26, khoản 1 điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

[2] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Kim T trình bày thống nhất là bà T có vay của Ngân hàng TMCP V số tiền vốn và lãi là 38.425.000 đồng, đã trả được 21.22.000 đồng, hiện còn nợ lại 17.205.000 đồng. Lời thừa nhận của bà T phù hợp với yêu cầu khởi kiện ông Trần Thái V là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày. Nên theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.

Hợp đồng vay tài sản là tiền giữa Ngân hàng V với bà T là hợp đồng có kỳ hạn, hạn cuối trả nợ là 08/01/2014 nhưng bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vay tài sản trả đủ tiền khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả lại số tiền vốn và lãi đến hạn với số tiền 17.205.000 đồng là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ông V yêu cầu trả một lần hết số tiền 17.205.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật, bà T yêu cầu trả mỗi tháng 2.000.000 đồng. Về phương thức trả, thời gian trả hai bên đương sự không thỏa thuận được. Do đó về phương thức trả, thời gian trả là do hai bên đương sự thỏa thuận với nhau khi đến giai đoạn thi hành án.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm bà T phải chịu theo quy định của pháp luật. 

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 189, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quóc Hội.

Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.

Buộc bà Nguyễn Lê Kim T trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền vốn và lãi là 17.205.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người có nghĩa vụ thi hành án chậm thi hành án, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

2/ Về án phí: bà Nguyễn Lê Kim T phải chịu 860.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại Ngân hàng TMCP V số tiền 480.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm theo biên lai thu số 31756 ngày 19/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như nộp xong án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3/ Ngân hàng TMCP V và bà T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


149
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2017/DS-ST ngày 31/05/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:44/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/05/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về