Bản án 432/2019/HS-PT ngày 26/07/2019 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 432/2019/HS-PT NGÀY 26/07/2019 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 26 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 204/2019/TLPT-HS ngày 16 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P.

Do có kháng cáo của các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Văn S, sinh năm 1998 tại tỉnh Hậu Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T1, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị L; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24-8-2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

 2. Lê Hoàng P, sinh ngày 26-4-1997 tại tỉnh Hậu Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc Đ và bà Lê Thị Kiều T; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24-8-2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

 Người bào chữa:

1. Luật sư Nguyễn Văn C;

2. Luật sư Nguyễn Quốc H;

Cùng thuộc Công ty Luật N, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội là các người bào chữa cho bị cáo Lê Văn S (có mặt).

3. Luật sư Nguyễn Ngọc H1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ là người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Hoàng P (có mặt).

Bị hại: Nguyễn Huỳnh Khánh D (đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Ông Nguyễn Hùng A, sinh năm 1973 (có mặt);

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Đ1, sinh năm 1973 (có mặt);

Cùng trú tại: ấp 1A, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Văn G, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970 (vắng mặt) Địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân tỉnh Hậu Giang và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 24-8-2018, Nguyễn Huỳnh Khánh D đi bộ đến nhà mẹ ruột là bà Nguyễn Thị L chơi. Khi đến nhà thì bà L ngăn cản không cho D vào trong nhà do trước đây D đã nhiều lần đến quậy phá nên bà L nói với D “Mày đi ra đi, tao không cho mày về nhà nữa”. Lúc này Lê Văn S, sinh năm 1998 (con ruột bà L là anh em cùng mẹ khác cha với D) đang ngủ trong phòng đi ra gặp D và nói “Thôi anh đi về đi, để về đây mẹ la hoài”, D không trả lời và đi đến cái ghế gỗ trước sân nhà bà L ngồi, sau đó S lên xe mô tô hiệu Wave 50 màu đỏ - đen, biển số 65FA - 3074 chuẩn bị đi học nghề hớt tóc thì D từ phía sau cầm dao thái lan đâm 01 cái trúng vào lưng phải của S rồi D bỏ chạy ra khỏi nhà.

Khi S bị D đâm thì S có nói với bà L “Nó đâm con rồi”, đồng thời S điện thoại cho bà Lê Thị Kiều T (mẹ ruột của Lê Hoàng P) để tìm P nhưng bà T trả lời là P đi học cắt tóc rồi nên S tắt máy và điện thoại cho Nguyễn Văn G1 là người dạy cắt tóc cho S và P để gặp Lê Hoàng P, (do P không sử dụng điện thoại di động). Lúc này P đang sử dụng điện thoại của anh G1 nên nghe máy, S nói với P “Có người vào nhà đâm em”, P không trả lời và tắt máy, S điều khiển xe mô tô biển số 65FA - 3074 chạy hướng ra chợ C1 đuổi đánh D thì gặp P đang điều khiển xe đạp điện hướng ngược lại tới khu vực chợ C1, khi thấy S thì P quay xe lại và đuổi theo D. Khi P đuổi theo D đến quốc lộ 61 thì P đậu xe cặp quốc lộ trước quán cà phê Út Bình, sau đó P chạy bộ đuổi theo D về hướng Cần Thơ, thì D nói với P “Mày không có liên quan, tao đâm chết mẹ mày luôn”, P lượm 02 cục bê tông rồi cởi áo sơ mi đang mặc trên người ra, bỏ 01 cục bê tông vào áo quấn lại cầm bên tay phải, 01 cục bê tông còn lại cầm bên tay trái đuổi theo D được một đoạn gần đến cây xăng Hòa Hà 3 thì D chạy ngang qua bên kia đường, P ném cục bê tông bên tay trái vào người D nhưng không trúng, D quay lại rút cây dao yếm trong người ra đuổi chém P, P đi lùi lại và ném cục bê tông cầm trên tay trái trúng vào cằm của D, sau đó P quay lưng bỏ chạy hướng về Kinh Cùng. Cùng lúc này, S điều khiển xe chạy đến tiệm hớt tóc anh G1 hỏi mượn dao nhưng anh G1 không cho, S tiếp tục điều khiển xe đến nhà hoang cặp tiệm hớt tóc anh G1 để xe cặp quốc lộ và đi vào trong sân nhà hoang lấy 01 cây sắt dài 1,3m, S cầm cây sắt chạy về hướng D, đối diện nhà ông Phạm Văn H2 thì P chạy qua mặt S, S dùng cây sắt đánh 01 cái trúng vào cổ bên trái của D, D dùng dao yếm đâm vào người S 01 cái nhưng không trúng. P quay lại dùng hai tay nắm lấy cánh tay phải của D quay từ phải qua trái đưa D di chuyển ra gần giữa lộ, S tiếp tục dùng cây sắt đánh 01 cái trúng vào vai trái của D. D bỏ chạy vào sân nhà ông H2, S cầm cây sắt đuổi theo D, P chạy theo sau nhặt đoạn cây tràm trước cửa nhà ông H2, khi vào đến sân, D quay mặt lại rút cây dao thái lan ra cầm trên tay trái, tay phải cầm cây dao yếm đứng đối diện với S, cùng lúc này P xông vào cầm đoạn tràm trên 02 tay đánh một cái trúng vào vai phải của D làm gãy đôi đoạn tràm, P quay ra tìm hung khí để tiếp tục đánh D. Tiếp đó, S cầm cây sắt đánh trúng vào cánh tay trái của D làm rơi cây dao thái lan xuống nền xi măng, S bỏ cây sắt xuống đồng thời nhặt cây dao thái lan, đâm 01 cái theo hướng từ trên xuống, từ phải qua trái trúng vào ngực trái của D, D đưa tay phải đang cầm dao yếm lên cao để chém S nhưng S bỏ cây dao thái lan xuống nền xi măng và dùng 02 tay chụp cổ tay phải của D khống chế, Trong lúc D và S đang câu vật với nhau, P nhặt được cây dao thái lan đâm 02 cái trúng mặt trước đùi trái của D, tiếp đó P dùng dao đâm 01 cái trúng vào lưng phải của D và 01 cái trúng vào mặt sau cổ phải của D rồi P bỏ cây dao thái lan xuống nền xi măng, P dùng tay trái khóa trái tay trái D ra sau lưng, tay phải nắm giật tóc khống chế D, S tiếp tục dùng tay phải đấm vào mặt D 02 cái thì ngưng, lúc này chính quyền địa phương đến can ngăn và đưa D đi cấp cứu nhưng đã tử vong trên đường đến bệnh viện. Còn S thì được đưa đến trạm y tế để điều trị vết thương.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 96/TT ngày 17-9-2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang về tử thi Nguyễn Huỳnh Khánh D kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Huỳnh Khánh D: Mất máu cấp do thủng đa tạng.

Tại kết luận giám định số 154/TgT ngày 14-9-2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang kết luận tỷ lệ thương tích tổn hại đến sức khỏe của Lê Văn S là 03%.

Tại bản kết luận giám định số: 3691/C09B ngày 25 tháng 10 năm 2018 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Phân tích được kiểu gen lẫn của hai nam giới từ vết máu kí hiệu gói 5, chiếc quần jean màu xanh (kí hiệu gói 12), chiếc áo ngắn tay màu xanh nhạt (kí hiệu gói 11), phần lưỡi và cán dao (dạng dao yếm, kí hiệu gói 7) và thanh kim loại (kí hiệu gói 8). Trong đó, một kiểu gen trùng với kiểu gen của nạn nhân Nguyễn Huỳnh Khánh D, một kiểu gen trùng với kiểu gen của Lê Văn S.

- Phân tích được một kiểu gen nam giới hoàn chỉnh từ dấu vết máu dính trên con dao (dạng dao thái lan) cán gỗ (kí hiệu gói 6) và trùng với kiểu gen của nạn nhân Nguyễn Huỳnh Khánh D.

- Phân tích được cùng kiểu gen nam giới hoàn chỉnh từ đầu vết máu kí hiệu gói 3, dấu vết dính trên chiếc áo thun dài tay màu đen (kí hiệu gói 9) và chiếc quần thun ngắn màu đen xám (kí hiệu gói 10) do Lê Văn S giao nộp và trùng với kiểu gen của Lê Văn S. (BL 112, 113).

Ngày 31-10-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hậu Giang tiến hành thực nghiệm điều tra vụ án, kết quả bị can Lê Văn S và Lê Hoàng P đã diễn lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị can, lời khai người làm chứng, phù hợp với hiện trường và dấu vết để lại trên tử thi.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS-P1, ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang để xét xử bị cáo Lê Văn S và Lê Hoàng P về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang quyết định.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S và Lê Hoàng P phạm tội “Giết người” Xử phạt bị cáo Lê Văn S 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2018.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2018.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày (kể từ ngày tuyên án) để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Ngày 21-3-2019 các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P cùng có đơn kháng cáo cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toàn phúc thẩm hôm nay các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Với các lý do: Bị cáo thật thà khai báo, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, gia đình người bị hại có đơn bãi nại, trong vụ án này bị hại cũng có lỗi, các bị cáo đã tác động gia đình khắc phục bồi thường cho gia đình người bị hại.

Tại phiên toàn phúc thẩm vị đại diện viện kieåm saùt nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

- Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về nội dung: Vị kiểm sát viên cũng phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P; Vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P. Giữ nguyên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Quan điểm của các vị luật sư bào chữa bảo vệ cho bị cáo Lê Văn S trình bày ý kiến: Phân tích toàn bộ các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, các vị Luật sư cho rằng bị hại có lỗi đối với bị cáo S trước. Các vị Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo S. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo Lê Văn S có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm của vị luật sư bào chữa bảo vệ cho bị cáo Lê Hoàng P trình bày ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng P.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, các vị Luật sư.

 NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1] Về thủ tục tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hậu Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Lê Văn S và Lê Hoàng P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Xuất phát từ việc bị hại Nguyễn Huỳnh Khánh D dùng dao đâm vào lưng của bị cáo S nên bị cáo đã điện thoại cho bị cáo P để cả hai cùng nhau tìm bị hại nhằm mục đích để đánh bị hại. Sau đó, bị cáo S và P cùng nhau tấn công bị hại dẫn đến bị hại tử vong.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bị hại là người có hành vi trái pháp luật khi dùng dao đâm bị cáo S. Tuy nhiên, bị cáo hoàn toàn đủ tỉnh táo để nhận thức được rằng việc làm của D là sai trái và bị cáo có cách giải quyết mâu thuẫn bằng biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo lại không xử sự như vậy mà ngay lập tức bị cáo gọi điện thoại cho bị cáo P nhằm mục đích thông báo cho bị cáo P cùng nhau tìm D để giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, điều này cho thấy bản chất côn đồ trong cách hành xử của bị cáo. Tính côn đồ, xem thường pháp luật của bị cáo còn được thể hiện thông qua việc bị cáo chạy lại nhà của ông Nguyễn Văn G1 để mượn dao, khi không được cho mượn thì bị cáo chạy đến nhà hoang để tìm hung khí nhằm mục đích tấn công bằng được người bị hại.

[4] Đối với Nguyễn Hoàng P, giữa bị cáo và bị hại D không quen biết và cũng không hề xảy ra mâu thuẫn gì trước đó. Nhưng khi được bị cáo S thông báo có người đâm bị cáo S thì bị cáo không cần suy nghĩ, không cần hỏi xem người tấn công bị cáo S là ai và sự việc như thế nào mà ngay lập tức bị cáo chạy đến và truy đuổi bị hại D. Mặc dù, đã được bị hại cảnh báo “mày không có liên quan” nhưng bị cáo vẫn tấn công bị hại D, bị cáo cũng là người trực tiếp dùng dao đâm nhiều nhát vào bị hại D. Từ hành vi của bị cáo cho thấy ý thức côn đồ, xem thường pháp luật của bị cáo.

[5] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở để khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội giết người có tính chất côn đồ được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[6] Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Xét tính chất và mức độ phạm tội của từng bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo S và bị cáo P không có sự bàn tính trước mà chỉ có ý thức cùng nhau tấn công bị hại D dẫn đến hậu quả chết người nên hai bị cáo chỉ phạm tội đồng phạm giản đơn. Trong đó, hai bị cáo có vai trò đồng phạm ngang nhau, bị cáo S là người khởi xướng việc đánh nhau còn bị cáo P là người thể hiện tính liều lĩnh, manh động, cả hai cùng phối hợp để giết bị hại. Do đó, tính chất mức độ phạm tội của hai bị cáo là như nhau.

[8] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo tác động gia đình khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo S được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ bị hại có một phần lỗi nhỏ, bởi lẽ nguyên nhân phát sinh tội phạm xuất phát từ hành vi của người bị hại dùng dao đâm vào người của bị cáo S. Do vậy, cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P, khai nhận, hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung án sơ thẩm đã nêu. Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai các người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P có hành vi “Giết người”. Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P phạm tội “Giết người ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã thực hiện hành vi “Giết người” một cách trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng người bị hại, được pháp luật bảo vệ, tạo ra sự bất bình dư luận trong xã hội, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, nên cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét cho cac bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục bồi thường cho gia đình bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét cho các bị cáo nhưng xét thấy mức án xử 17 năm tù là có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử nghĩ nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P.

Về án phí: Các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn S và Lê Hoàng P, phạm tội “Giết người” Xử phạt bị cáo Lê Văn S 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2018.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2018.

Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P để đảm cho việc thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo Lê Văn S, Lê Hoàng P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 432/2019/HS-PT ngày 26/07/2019 về tội giết người

Số hiệu:432/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/07/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về