Bản án 43/2019/HS-PT ngày 01/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 43/2019/HS-PT NGÀY 01/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 04/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Thị G do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị G, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2018/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị G, sinh năm 1987; Nơi cư trú: ấp L, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Cha Nguyễn Văn V, sinh năm 1962; mẹ Huỳnh Thị T, sinh năm 1960; chồng Lưu Văn V sinh năm 1980 và con sinh năm 2006. Tiền án; Tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị G:

Ông Nguyễn Đình Thái H – Luật sư Văn phòng luật sư Thái H thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng (có mặt). (Trong vụ án, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 27/6/2018, Nguyễn Thị G đi đến nhà của vợ chồng chị Trần Thị M thuộc ấp L, xã L, thị xã T (nhà G cặp vách nhà chị M) để tìm tài sản lấy trộm. Tại đây, G nhìn thấy chị M đang quét dọn dưới sàn nhà, trên nhà không khóa cửa và không có ai, Gỏi liền đi vào nhà chị M nhìn thấy bọc nilon, đặt cặp vách nhà bên trái (nhìn từ ngoài vào) gần phòng ngủ, G lấy bọc nilon ra đứng bên phải nhà chị M (từ trong nhìn ra) ném xuống đất, rồi nhanh chóng đi xuống đất lấy bọc nilon của chị M đem về nhà. Sau đó, G mở bọc nilon ra, bên trong có 01 túi xách, bên trong túi xách, có nhiều ví da nhỏ và túi vải, G mở túi vải ra, thấy 02 bông tai bằng vàng 18 kara và 1.400.000 đồng, G lấy tiền và 02 bông tai giấu trong nhà của Gỏi, còn những tài sản c òn lại bên trong bọc nilon, Gỏi không kiểm tra vì sợ bị phát hiện. Sau đó, G đem bọc nilon, bên trong còn tài sản của chị M, giấu trong ống cống dưới sàn nhà của G. Sau đó, G điều khiển xe đạp đem 02 bông tai bằng vàng 18 kara đến cửa hàng Kim Vân thuộc ấp L, xã L, thị xã T, bán cho chị Nguyễn Thị Minh C, với giá 350.000 đồng.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

- 01 túi xách bằng vải màu đen.

- 01 túi xách màu nâu có chữ Closeup.

- 01 ví da kiểu nam màu đen.

- 01 ví da kiểu nữ màu đen.

- 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng.

- 01 mặt dây chuyền hình tròn bằng kim loại màu trắng.

- 01 vòng tay (lắc) kiểu nữ, mặt bông mai, bằng kim loại màu vàng, trên có gắn 02 hột đá màu trắng, kích thước dài 18 cm.

- 01 vòng tay (lắc) kiểu nữ, trạm khắc hình bông, bằng kim loại màu vàng, dài 17 cm.

- 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có số 555.

- 01 chiếc nhẫn kiểu nữ, bằng kim loại màu vàng, mặt nhẫn có gắn đá màu hồng, xung quanh có gắn đá nhỏ.

- 01 chiếc nhẫn trơn bằng kim loại màu vàng, mặt trong của nhẫn có chữ Mỹ Trang 9999.

- 01 sợi dây chuyền hình công, bằng kim loại màu vàng, dài 53 cm, mặt dây chuyền bằng đá, màu xanh.

- Tiền Việt Nam 6.750.000 đồng (gồm 6.400.000 đồng do Gỏi lấy trộm và 350.000 đồng do Gỏi bán đôi bông tai).

- 01 bọc nilon màu trắng, 01 bọc nilon màu đỏ, 01 bọc nilon màu xanh có chữ bitis, 01 quyển tập, 01 túi vải có ghi chữ Mỹ Trang, 02 hộp nhựa màu đỏ.

- 01 xe đạp kiểu nữ, màu trắng (đã qua sử dụng).

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 49 ngày 03/7/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Tân Châu, kết luận:

- 01 túi xách bằng vải màu đen. Giá trị còn lại, trị giá 10.000 đồng

- 01 túi xách bằng vải màu nâu có chữ Closeup. Giá trị còn lại, trị giá 20.000 đồng.

- 01 ví da kiểu nam màu đen. Giá trị còn lại, trị giá 10.000 đồng.

- 01 ví da kiểu nữ màu đen. Giá trị còn lại, trị giá 10.000 đồng.

- 01 chiếc nhẫn bằng bạc, trọng lượng 4,2 phân. Trị giá: 126.000 đồng.

- 01 mặt dây chuyền bằng bạc, hình tròn, trọng lượng 3,4 phân. Trị giá: 102.000 đồng.

- 01 vòng tay lắc vàng 24 kara, kiểu nữ trạm khắc hình bông, dài 17 cm, trọng lượng 8 chỉ. Trị giá: 27.696.000 đồng.

- 01 chiếc nhẫn vàng 24 kara, mặt nhẫn có số 555, trọng lượng 5 chỉ. Trị giá: 17.310.000 đồng.

- 01 chiếc nhẫn vàng 24 kara, mặt trong chiếc nhẫn có chữ Mỹ Trang 9999, trọng lượng 5 chỉ. Trị giá: 17.310.000 đồng.

- 01 sợi dây chuyền bằng vàng 24 kara, hình chữ công dài 53 cm, mặt dây chuyền bằng đá màu xanh, trọng lượng 5,5 chỉ. Trị giá: 19.041.000 đồng.

- 02 bông tai bằng vàng 18 kara, kiễu nữ loại khoen tròn, trọng lượng 1,9 phân. Trị giá: 457.900 đồng.

- 01 vòng tay lắc vàng 18 kara, kiểu nữ mặt bông mai, trên mặt có gắn 02 hột đá màu trắng, kích thước chiều dài 18 cm, trọng lượng 3 chỉ 9,2 phân. Trị giá: 9.447.200 đồng.

- 01 chiếc nhẫn vàng 18 kara, kiểu nữ, mặt nhẫn có gắn hột đá màu hồng, xung quanh có gắn đá nhỏ, trọng lượng 7 phân. Trị giá: 1.687.000 đồng.

Tổng cộng là 93.227.100 đồng và số tiền mặt là 6.400.000 đồng và số tiền bị cáo G bán đôi bông tai là 350.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 99.977.100 đồng (chín mươi chín triệu, chín trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm đồng).

Cáo trạng số 48/CT-VKSTC ngày 05/10/2018 của Viện kiểm sát thị xã Tân Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị G về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đã quyết định: căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo thi hành án.

Về phần xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe đạp kiểu nữ, màu bạc đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 20/11/2018, bị cáo Nguyễn Thị G có đơn kháng cáo với nội dung: Xin cho bị cáo được hưởng giảm án và hưởng án nhẹ nhất là cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng hì nh phạt cải tạo không giam giữ. Lý do: hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo bị nhiễm bệnh nhiễm HIV, bị cáo là lao động chính, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo đang mang thai.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị G kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án. Bị cáo đã có hành vi lấy trộm tài sản của vợ chồng chị Trần Thị M bao gồm tài sản là 93.227.100đ và tiền mặt 6.400.000đ, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của người bị hại là 99.697.100đ nên đủ dấu hiệu định tội “Trộm cắp tài sản”. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án và có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và tuyên phạt mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo đã có thái độ tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng là bất lợi cho bị cáo. Đồng thời, bị cáo còn có các tình tiết giảm nhẹ khác như: hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, chồng bị cáo đang bị bệnh nhiễm HIV, người bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết trên để chấp nhận giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ: xét thấy, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày, là hành vi liều lĩnh, nguy hiểm, gây tâm lý hoang man cho người dân trong khu vực về việc bảo vệ tài sản của mình. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bị cáo.

Từ những phần tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173, điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo ông Nguyễn Đình Thái H có ý kiến: không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét về ý thức của bị cáo khi lấy trộm tài sản, bị cáo không nghĩ người bị hại có số tài sản lớn như vậy và thực tế bị cáo chỉ lấy phần tiền lẻ, số tiền bị cáo chiếm đoạt chưa đủ cấu thành tội phạm, nhưng khi phát hiện ra thì số tiền trong bọc nilon rất lớn, người bị hại có một phần lỗi. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thống nhất với đề xuất của Kiểm sát viên, cần xem xét thêm các tình tiết bị cáo thuộc gia đình nghèo, bị cáo là lao động chính, chồng bị bệnh nhiễm HIV để cân nhắc xét cho bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử cần xem xét lại tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của người bị hại chỉ 99.697.100 đồng, nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm lại ghi nhận là 99.977.100 đồng là đã tí nh hai lần giá trị của đôi bông tai bị cáo lấy đi bán (vừa tính giá trị theo định giá và cộng luôn số tiền 350.000đ bị cáo đã bán đôi bông). Cuối cùng, đối với việc xử lý vật chứng, mong Hội đồng xét xử có xem xét trả lại cho bị cáo chiếc xe đạp vì đây là phương tiện đi lại chung của gia đình và con bị cáo sử dụng đi học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: 

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị cáo Nguyễn Thị G làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị G tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các biên bản khám nghiệm hiện trường, các bản ảnh hiện trường, bản kết luận định giá tài sản; phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Thị G đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở trong việc trông giữ tài sản của vợ chồng chị Trần Thị M nên đã lẻn vào trong nhà chị M lấy trộm bọc ni lon, trong đó có vàng và tiền; bị cáo lấy số tiền 1.400.000 đồng và đôi bông tai đem bán lấy tiền tiêu xài, số vàng và tiền còn lại bị cáo đem giấu trong ống cống dưới sàn nhà của bị cáo . Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của người bị hại là 99.697.100 đồng (trong đó tổng giá trị vàng là 93.227.100 đồng và số tiền mặt là 6.400.000 đồng).

[3] Căn cứ vào quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo Nguyễn Thị G đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh này theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị G, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị báo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải cần cù lao động tạo ra của cải vật chất để nuô i sống bản thân và gia đình, xứng đáng là một người mẹ gương mẫu cho con, nhưng ngược lại với bản chất tham lam muốn có tiền để tiêu xài mà không phải lao động. Hành vi phạm tội của bị cáo, không những xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bức xúc trong nhân dân. Do đó, cần có một mức án nghiêm tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, khi quyết định hình phạt đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như thật thà khai báo, đã tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời cung cấp cụ thể những thông tin về nơi bị cáo đã bán tài sản để Cơ quan điều tra thu hồi tài sản, kịp thời trả lại cho người bị hại. Điều này cho thấy bị cáo đã có thái độ tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra, bị cáo còn có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chồng bị bệnh nhiễm HIV không lao động, nên bị cáo phải lo kinh tế gia đình, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm các tình tiết trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với yêu cầu xin được hưởng hình phạt thấp nhất là cải tạo không giam giữ, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày, cho thấy sự liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã gây hoang man trong dư luận xã hội, lo lắng cho người dân địa phương trong việc bảo quản tài sản của mình, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để rèn luyện và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Từ đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho rằng Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của người bị hại là 99.977.100 đồng, nhưng thực chất chỉ có là 99.697.100 đồng là do cấp sơ thẩm đã tính hai lần giá trị của đôi bông tai bị cáo lấy đi bán (vừa tính giá trị theo định giá và cộng luôn số tiền 350.000đ bị cáo đã bán đôi bông). Xét thấy, đây là sơ sót của Hội đồng xét xử sơ thẩm, do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại đúng tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của chị M phải là 99.697.100 đồng. Sự sai sót trên không làm thay đổi định khung hình phạt đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Về phần xử lý vật chứng: đối với chiếc xe đạp kiểu nữ, màu bạc đã qua sử dụng, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Tại phiên tòa hôm nay, người bào chữa cho bị cáo cũng có ý kiến mong Hội đồng xét xử có xem xét trả lại cho bị cáo chiếc xe đạp này. Tuy bị cáo không có kháng cáo nội dung trên, nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét toàn diện bản án. Nhận thấy, chiếc xe đạp là tài sản chung của gia đình bị cáo , là phương tiện đi lại trong sinh hoạt hàng ngày và con bị cáo sử dụng để đi học. Việc bị cáo sử dụng xe đạp đi bán đôi bông tai lấy trộm được của chị M, người thân của bị cáo không biết nên cần tuyên trả lại chiếc xe đạp cho bị cáo.

[5] Từ những nhận định nêu trên, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, không chấp nhận yêu cầu xin hưởng hình phạt thấp nhất cải tạo không giam giữ, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu về phần hình phạt và phần xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Nguyễn Thị G không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s ử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng hình phạt thấp nhất là cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Thị G, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu về phần hình phạt và phần xử lý vật chứng.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s ử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Giao trả cho bị cáo Nguyễn Thị G 01 (một) xe đạp kiểu nữ, màu bạc đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị G không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2019/HS-PT ngày 01/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:43/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về