Bản án 430/2017/HS-PT ngày 14/08/2017 về tội vi phạm quy định xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng

 TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 430/2017/HS-PT NGÀY 14/08/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH XÂY DỰNG GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG

Ngày 14 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 731/2016/HSPT ngày 29 tháng 11 năm 2016 đối với bị cáo Trần Hoàng T và Nguyễn Trọng H, do có quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 187/2015/HSPT ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

* Bị cáo:

1. Trần Hoàng T, sinh năm 1953; ĐKTT: 121 đường Q, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở: 225/6A đường B, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: xây dựng; Con ông Trần E và bà Nguyễn Thị H; Có vợ là Trần Thị Phương N và 02 con (lớn sinh năm 1976, nhỏ sinh năm 1982); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

2. Nguyễn Trọng H, sinh năm 1976; ĐKTT: 3A đường Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: kỹ sư xây dựng; Con ông Nguyễn Văn E và bà Nguyễn Kim D; Có vợ là Phạm Thanh T và 02 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng H: Luật sư Nguyễn Trường T – Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2010, Công ty cổ phần Xây dựng Thương mại V (gọi tắt là Công ty V) do Nguyễn Văn O làm giám đốc đã ký hợp đồng với Công ty TNHH MTV Xây dựng Thương mại Dịch vụ T (gọi tắt là Công ty T) do bà Phạm Thanh T làm giám đốc để tư vấn giám sát thi công. Bà T phân công chồng là Nguyễn Trọng H, kỹ sư xây dựng thực hiện việc giám sát thi công công trình Khách sạn V tại khu vực 3, Cồn Khương, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

Song song với hợp đồng trên, Công ty Vạn P cũng ký kết hợp đồng với Công ty TNHH MTV Xây dựng Thương mại Dịch vụ M (gọi tắt là Công ty M) do bà Nguyễn Thị Cẩm H làm giám đốc để thi công xây dựng. Bà H đã ký hợp đồng thi công khoán trọn cho Trần Hoàng T để trực tiếp thi công công trình khách sạn Vạn Phát. Quá trình tổ chức thi công, T phân công Nguyễn Thanh V làm đội trưởng, giao nhiệm vụ tuyển chọn công nhân, quản lý công trình, phân công, bố trí công việc hàng ngày cho công nhân và quản lý trang thiết bị, máy móc công trình nhưng không tổ chức huấn luyện cho người điều khiển máy thiết bị thi công để đảm bảo an toàn lao động và treo biển nội quy ở công trình theo quy định để công nhân biết thực hiện.

Khoảng tháng 3/2011, để thuận lợi cho việc vận chuyển vật tư lên các tầng lầu, T thuê Lê Văn K, chủ cơ sở cửa sắt làm một máy vận thăng nhưng T không tiến hành kiểm định mà tự ý cho thử tải bằng phương pháp để vật tư lên máy vận thăng xác định tải trọng là 500kg, đưa vào sử dụng. Trong quá trình bảo trì máy vận thăng, K phát hiện dây cáp bị rỉ sét có khả năng bị đứt, đề nghị thay mới. Sau đó, V có báo lại cho T nhưng T không thực hiện.

Ngày 03/10/2011, anh Nguyễn Văn X là người được V giao điều khiển máy vận thăng không đi làm nên V phân công Huỳnh Văn T là thợ phụ hồ đến điều khiển máy vận thăng để nâng vật tư lên các tầng lầu cho công nhân thi công. Khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, T cho chuyển 232 viên gạch ống vào máy vận thăng để chuyển lên lầu thì các ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Hoàng T, Huỳnh Văn S và Trần Minh H tự ý đến ngồi vào máy vận thăng rồi kêu Tâm điều khiển máy để được vận hành đến tầng lầu làm việc. T bật công tắc điều khiển máy vận thăng lên tầng lầu thứ 3 cách mặt đất khoảng 17 mét thì dây cáp bị đứt, công nhân cùng các viên gạch rơi xuống đất làm ông N, T, M chết tại chỗ, ông S, H bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ cấp cứu. Đến ngày 07/10/2011, ông S tử vong, ông H được tiếp tục điều trị đến ngày 20/10/2011 thì xuất viện.

Theo Bản kết luận giám định số 129/KL-PC54,130/KL-PC54,131/KL-PC54 ngày 03/10/2011, số 133/KL-PC54 ngày 07/10/2011 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có kết quả như sau:

- Nguyễn Văn N tử vong do dập não sau vỡ lún xương sọ.

- Nguyễn Hoàng T tử vong do choáng mất máu cấp sau rách thủng phổi và tim do chấn thương vùng ngực kín.

- Nguyễn Văn M tử vong do choáng mất máu cấp sau dập thủng phổi do chấn thương vùng ngực kín.

- Huỳnh Văn S tử vong do choáng sau dập đa nội tạng. Riêng Trần Minh H từ chối giám định tỷ lệ thương tích.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2014/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2014, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Trọng H phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”.

Áp dụng khoản 3, 4 Điều 229, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47, Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt:

Trần Hoàng T 05 (năm) năm tù.

Nguyễn Trọng H 05 (năm) năm tù.

Thời hạn phạt tù đối với hai bị cáo tính từ ngày chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: cấm hai bị cáo hành nghề liên quan đến hoạt động xây dựng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.

Ngày 19/9/2014, bị cáo Nguyễn Trọng H kháng cáo yêu cầu tuyên bố bị cáo không phạm tội.

Ngày 22/9/2014, bị cáo Trần Hoàng T kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 187/2015/HSPT ngày 17/4/2015, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 3 Điều 229; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Hoàng T và Nguyễn Trọng H mỗi bị cáo 3 năm tù về tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” nhưng cho hưởng án treo.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 13/2016/HS-GĐT ngày 06/9/2016, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 187/2015/HSPT ngày 17/4/2015 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với Trần Hoàng T và Nguyễn Trọng H, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Trọng H đã thay đổi yêu cầu kháng cáo, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã nêu, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo H xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới, năm 2016 bị cáo được Giám đốc Công an thành phố Cần Thơ tặng bằng khen vì đã có thành tích trong công tác phòng chống tội phạm.

Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm sau khi phân tích tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội và hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt mỗi bị cáo 05 năm tù là phù hợp. Không có căn cứ để giảm án cho các bị cáo, mặc dù bị cáo H có xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới.

Luật sư bào chữa cho bị cáo H thống nhất tội danh, điều luật Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo H vì sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã có thành tích trong công tác phòng chống tội phạm, được Giám đốc Công an thành phố Cần Thơ tặng bằng khen.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Khoảng 07 giờ ngày 03/10/2011, tại công trình xây dựng khách sạn Vạn Phát tại khu vực 3, Cồn Khương, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ đã xảy ra việc đứt dây cáp của tời nâng vật liệu, dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm 04 người chết và 01 người bị thương. Căn cứ vào hợp đồng thi công khoán gọn đối với công trình khách sạn Vạn Phát ký ngày 12/10/2010 giữa Công ty M và Trần Hoàng T đã quy định trách nhiệm của bên nhân khoán về đảm bảo an toàn lao động, tự điều động nhân sự và chịu trách nhiệm về an toàn lao động tại công trường. Với vai trò đại diện cho đơn vị thi công, Trần Hoàng T đã trực tiếp thuê Lê Văn K chế tạo máy nâng vật tư và đưa vào sử dụng tại công trình đang thi công mà không qua kiểm định, đăng ký theo quy định, không ra nội quy sử dụng (Khiêm xác nhận tổng tải trọng của máy là 1000kg). Thám chỉ thực hiện thử tải cùng đại diện giám sát thi công là Nguyễn Trọng H theo phương pháp thủ công và tự xác định tải trọng nâng hàng cho phép là 500kg, khi được báo về việc dây cáp của máy đã bị tưa, cần thay mới đã không thực hiện ngay.

Hành vi Trần Hoàng T đã vi phạm quy định Thông tư 04/2008/TT-BLĐTBXH ngày 27/2/2008 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn thủ tục đăng ký và kiểm định các loại máy, thiết bị vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và các Điều 4, 6 Thông tư 22/2010/TT-BXD ngày 03/12/2010 của Bộ Xây dựng quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng.

Nguyễn Trọng H với tư cách người giám sát thi công theo Hợp đồng kinh tế số 03/HĐKT-TVGS ngày 10/4/2010 giữa Công ty Vạn P và Công ty Tài N có trách nhiệm kiểm tra nhân lực, thiết bị thi công, kiểm tra giấy phép sử dụng máy, thiết bị vật tư có yêu cầu an toàn, phục vụ thi công xây dựng công trình. Trong trường hợp nghi ngờ thiết bị không hợp lệ phải báo với chủ đầu tư nhưng bị cáo không thực hiện đúng quy định này, đã thống nhất thử tải theo phương pháp thủ công cùng Trần Hoàng T và đồng ý để đơn vị thi công đưa vào sử dụng, bị cáo cũng không nhắc nhở đơn vị thi công về việc sử dụng nhân lực vận hành máy và niêm yết thông báo cho người lao động biết về nội quy sử dụng máy; khi được báo về tình trạng dây cáp bị tưa cũng không nhắc nhở người phụ trách thi công thay mới. Hành vi của H đã vi phạm Điều 4 và Điều 7 Thông tư số 22/2010/TT-BXD ngày 03/12/2010 của Bộ Xây dựng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo Trần Hoàng T và Nguyễn Trọng H phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo xin giảm án của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo T và H đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, làm 04 người chết, 01 người bị thương, bị truy tố theo khoản 3 Điều 229 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 08 năm đến 20 năm tù.

Tuy nhiên, nguyên nhân hậu quả vụ tai nạn xảy ra là do Nguyễn Thanh V đã phân công thợ hồ Huỳnh Văn T điều khiển tời thay cho Nguyễn Văn X nghỉ đột xuất. Mặc dù đã được thông báo không được chở người nhưng các bị hại vẫn chủ quan, bất chấp nguy hiểm trèo lên tời và yêu cầu cho chạy.

Như vậy, trong vụ án này, T là người có lỗi chính và bị hại cũng có một phần lỗi. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường khắc phục hậu quả, được gia đình bị hại bãi nại. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T 05 năm tù, H 05 năm tù là thỏa đáng.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo T xin giảm án nhưng không đưa ra được tình tiết, chứng cứ gì mới, nên không có căn cứ giảm án cho bị cáo. Đối với bị cáo H, bị cáo xuất trình chứng cứ mới đó là Bằng khen của Giám đốc Công an thành phố Cần Thơ tặng cho bị cáo vì đã có thành tích trong phòng chống tội phạm năm 2016. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới. Hơn nữa, vai trò của bị cáo là sau bị cáo T. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.

Do kháng cáo của bị cáo T không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí phúc thẩm. Bị cáo H không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng T.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng H. Sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt của bị cáo Nguyễn Trọng H.

Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Trọng H phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”.

Áp dụng khoản 3, 4 Điều 229, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47, Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Trần Hoàng T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Nguyễn Trọng H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: cấm hai bị cáo hành nghề liên quan đến hoạt động xây dựng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí phúc thẩm: Bị cáo Trần Hoàng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


384
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về