Bản án 42/2020/HS-ST ngày 05/05/2020 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP. HÀ NỘI

BẢN ÁN 42/2020/HS-ST NGÀY 05/05/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 05/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/HS-ST ngày 30/3/2020 đối với bị cáo:

Tưởng Văn H, sinh năm 1970, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và trú tại: Thôn T, xã HD, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Tưởng Văn S (đã chết), con bà Lê Thị Lố; Vợ: Nguyễn Thị G (đã ly hôn) và 04con; Danh chỉ bản số 58 lập ngày 31/12/2019 tại Công an huyện Chương Mỹ; Tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân:

- Năm 2003 bị Văn phòng Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Hà Tây bắt về hành vi đánh bạc, không xử lý hình sự và có Quyết định trả tự do số 22 ngày 06/04/2003.

- Năm 2003 bị Công an huyện Thanh Oai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Tại Bản án số 61/2009/HSST ngày 11/6/2009, bị Tòa án huyện Chương Mỹ, TP.Hà Nội phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 20/7/2011 chấp hành xong hình phạt tù; nộp án phí ngày 15/7/2009 (đã xoá án tích)

- Tại Bản án số 29/2014/HSST ngày 07/04/2014, bị Tòa án huyện Chương Mỹ, TP.Hà Nội phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 30/01/2017 chấp hành xong hình phạt tù; nộp án phí ngày 11/6/2014 (đã xoá án tích).

Bị tạm giam từ ngày 27/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an TP Hà Nội.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983. Trú tại: Xóm HX, xã ĐP, huyện C, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 27/12/2019, Tưởng Văn H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Nguyễn Văn Đ hỏi mua 200.000 đồng tiền ma tuý. Do có sẵn ma tuý ở trong người nên H hẹn Đ đến đoạn đường đê thuộc thôn T, xã HD, huyện C, Hà Nội để bán ma tuý. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày Đ đến gặp H tại điểm hẹn và đưa cho H 200.000 đồng, H cầm tiền và đưa lại cho Đ 01 gói ma tuý Heroin, Đ cầm gói ma tuý H bán cho thì bị tổ công tác đội CSĐTTP về ma tuý - Công an huyện Chương Mỹ làm nhiệm vụ phát hiện và và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nhỏ bằng giấy trắng có dòng kẻ, bọc ngoài bằng nilong màu xanh, kích thước (01x01)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý.

- Số tiền 200.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.

- 02 điện thoại di động đã cũ.

Tại Kết luận giám định số 65/KLGĐ-PC09 ngày 03/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy (thu giữ của Nguyễn Văn Đ) là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,016 gam”.

Tại Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 20/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Tưởng Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Tưởng Văn H khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện việc bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ như nội dung Cáo trạng đã nêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng, với số lượng ma túy bị quy kết bán là 0,016gam Heroine. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đề nghị áp dụng khoản 1Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt: H từ 30 đến 36 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000 đồng; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án; khởi tố bị can; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ;về các biện pháp điều tra như: lấy lời khai bị can, lấy lời khai người liên quan, người làm chứng, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định vật chứng thu giữ, thu thập các tài liệu chứng cứ về nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên; không khiếu nại về việc bị Điều tra viên, Kiểm sát viên mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình. Do vậy, các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

[1.2] Về sự vắng mặt của người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Văn Đ: Xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người liên quan, sự vắng mặt của người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người này.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét lời khai của bị cáo Tưởng Văn H tại phiên tòa, thấy phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/12/2019, tại thôn T, xã HD, huyện C, Hà Nội, Tưởng Văn H có hành vi bán trái phép 0,016gam Hêroin với giá 200.000 đồng thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Tưởng Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Tưởng Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn Đ là người nghiện ma túy, có hành vi mua trái phép 0,016gam Hêroin để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích nào khác, bản thân Đ chưa có tiền án và tiền sự về hành vi liên quan đến ma túy. Xét thấy khối lượng ma túy trên không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nên ngày02/3/2020 Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức “Cảnh cáo” Nguyễn Văn Đ là phù hợp.

Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân cách con người, dư luận xã hội bất bình lên án. Trước tình hình tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng, Nhà nước ta đã ban hành các chính sách nhằm phổ biến, tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về tác hại của ma túy, đồng thời có biện pháp xử lý rất kiên quyết. Bị cáo H có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[2.2.] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã hai lần bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng không chịu sửa chữa cải tạo, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục giáo dục cải tạo bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[2.3.] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2.4.] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) gói ma túy đã thu giữ được niêm phong, cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với số tiền 200.000 đồng, là số tiền giao dịch vào việc trái phép chất ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

+ 02 điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo H và người liên quan – anh Đ, đều được sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[2.5.] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Tưởng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt:

Tưởng Văn H: 36(ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2019.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên, chữ ký cán bộ Công an huyện Chương Mỹ và chữ ký của Tưởng Văn H, Nguyễn Văn Đ

3.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 (hai) điện thoại di động, đã qua sử dụng

3.3. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 (hai trăm ngàn đồng) đã sử dụng vào giao dịch trái pháp luật.

(Toàn bộ số vật chứng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2020, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ. Số tiền 200.000 đồng hiện đang lưu giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo Giấy nộp tiền ngày 20/3/2020 tại Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh L).

4.Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Tưởng Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2020/HS-ST ngày 05/05/2020 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

Số hiệu:42/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chương Mỹ - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về