Bản án 418/2019/HSPT ngày 26/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 418/2019/HSPT NGÀY 26/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 357/HSPT ngày 26/8/2019 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2019/HSST ngày 23/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị H; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1967 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 68/166 Trần Quang Khải, phường A, Quận B, Thành phố C; Chỗ ở: Nhà không số (cạnh nhà số 47/1), tổ 10, đường D, Phường E, quận F, Thành phố C; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thới C (chết) và bà Nguyễn Thị M; Hoàn cảnh gia đình: Không rõ chồng và có 01 con (sinh năm 2003); Tiền sự: Không;

Tiền án:

- Ngày 26/11/2010, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số: 252/2010/HSST. Bị cáo kháng cáo bản án.

- Ngày 29/12/2010, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số: 248/2010/HSST.

- Ngày 15/3/2011, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án số: 252/2010/HSST, ngày 26/11/2010 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh và tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” của Bản án số: 248/2010/HSST ngày 29/12/2010 của Tòa án nhân dân Quận 1. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 03 tháng tù theo Bản án số: 149/2011/HSPT.

- Ngày 09/12/2014, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số: 300/2014/HSST.

- Ngày 08/6/2017, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số: 47/2017/HSST.

Nhân thân:

- Ngày 19/8/1985, Tòa án nhân dân huyện Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản riêng của công dân" theo Bản án số: 79/HS-ST.

- Ngày 29/9/1986, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định về việc bắt buộc lao động tập trung 12 tháng theo Quyết định số: 626/QĐ-BBLĐ.

- Ngày 19/5/1988, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân" theo Bản án số: 128/HS-ST.

- Ngày 08/5/1991, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân" theo Bản án số: 199/HSST.

- Ngày 17/10/1995, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số: 1464/HSST.

Tạm giữ, tạm giam ngày: 05/3/2019 - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với ý định đi tìm tài sản chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài, khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 15/02/2019, Nguyễn Thị H đi bộ lòng vòng trong khu vực chợ Bình Tây, Phường 2, Quận 6 tìm tài sản. Khi đi ngang sạp bán vải của bà Trần Thị Cẩm N tại số 307 chợ Bình Tây, Hồng thấy không có người trông coi liền đi đến ôm 03 cây vải gấm, bông hiệu Thái Tuấn rồi nhanh chóng tẩu thoát ra hướng đường Lê Tấn Kế (cách sạp 307 khoảng 50 mét) thì bị bà Lương Hồng V (người phụ việc cho bà N) phát hiện tri hô cùng những người xung quanh đuổi theo bắt giữ giao Công an Phường 2, Quận 6 giải quyết.

Tại Công an Phường 2, Quận 6 cũng như tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Nguyễn Thị H đều khai nhận thực hiện hành vi nêu trên.

Tại Văn bản số: 233/TCKH ngày 22 tháng 02 năm 2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 6 thống nhất giá như sau: 03 cây vải gấm, bông hiệu Thái Tuấn, khổ 10mx1,2m, có giá là: 1.800.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2019/HSST ngày 23/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Nguyễn Thị H 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 05/3/2019.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết về tang vật, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/7/2019 bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm thời gian chấp hành hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt hành vi phạm tội, hậu quả tội phạm mà bị cáo thực hiện đã cho rằng:

Bị cáo Nguyễn Thị H đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội: “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ.

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị H có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nay có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 03 cây vải gấm, bông hiệu Thái Tuấn, có giá là: 1.800.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội.

Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mức hình phạt 02 năm 6 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là thỏa đáng, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, để có thể xem xét cho bị cáo.

Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H mà giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Thị H 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 05/3/2019.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được giảm thời gian chấp hành hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận 6, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 6, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Thị H có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 173 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/7/2019 bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Thị H đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nay còn có hành vi “Trộm cắp tài sản” là 03 cây vải gấm, bông hiệu Thái Tuấn, khổ 10mx1,2m, có giá là: 1.800.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Hồng 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn để áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H không xuất trình thêm tình tiết nào mới để Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H là phù hợp.

Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Thị H 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày: 05/3/2019.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


59
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 418/2019/HSPT ngày 26/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:418/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về