Bản án 415/2020/DSPT ngày 17/11/2020 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

A ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 415/2020/DSPT NGÀY 17/11/2020 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số 363/2020/TLPT-DS ngày 01/10/2020 về tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 50/2020/DS-ST ngày 28/05/2020 của Toà án nhân dân huyện CB, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 437/2020/QĐ-PT ngày 05 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963 (có mặt); Địa chỉ: Ấp AT, xã AC, huyện CB, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Anh Ngô Văn H, sinh năm 1989 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp AT, xã AC, huyện CB, tỉnh Tiền Giang.

* Người kháng cáo: Bị đơn Ngô Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm;

* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà làm nghề mua bán gạo tại khu vực cầu B thuộc xã AC, huyện CB, tỉnh Tiền Giang. Anh H cũng là bạn hàng mua bán gạo gần khu vực cầu Bà Đắc. Trước giờ bà với anh H không có mâu thuẫn hay mua bán làm ăn với nhau. Gần đây sau khi ăn nhậu say xỉn anh H thường hay đến nhà máy lao gạo Thiên Phú 2 để chửi mắng, đe dọa bà nhiều lần. Cụ thể lúc 16 giờ ngày 18/12/2019 bà đang chờ xả gạo tại nhà máy Thiên Phú 2 thì anh H sau khi đã nhậu say đến nhà máy chửi bà, bà Lương Thị N, bà Nguyễn Thị C, sau đó anh H dùng tay đánh bà tới tấp, bà Nguyễn Thị M (bà nội H) và 01 người chạy Honda ôm gần đó chạy đến can ngăn anh H mới dừng lại. Bà được đưa vào Trung tâm y tế huyện CB điều trị và chuyển đến Bệnh viên đa khoa khu vực CL được bác sĩ chuẩn đoán là đau sưng nề vùng chẩm, sưng bầm cánh tay phải 1/3 trên trước, đau sưng nề mạng sườn phải. Bác sĩ có yêu cầu bà nhập viện nhưng bà xin được điều trị tại nhà. Chi phí điều trị của bà gồm tiền thuốc là 1.500.000 đồng, tiền công lao động bị mất 10 ngày là 5.000.000 đồng. Bà yêu cầu anh H phải bồi thường cho bà 6.500.000đồng chi phí điều trị và tiền công lao động bị mất.

Tại phiên tòa bà yêu cầu anh H bồi thường tiền thuốc theo hóa đơn là 1.319.802 đồng và tiền công lao động bị mất với mức 250.000đồng/ ngày.

* Bị đơn anh Ngô Văn H dù nhận đầy đủ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không tham gia tố tụng và cũng không có lời trình bày.

Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2020/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện CB, tỉnh Tiền Giang đã áp dụng Điều 147, 227, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự 2015Nghị quyết 326/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị H.

- Buộc anh Ngô Văn H phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 3.819.802 đồng. thẩm.

- Về án phí: Anh Ngô Văn H phải chịu phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

* Ngày 07 tháng 8 năm 2020, bị đơn Ngô Văn H kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu:

- Về tố tụng, trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định pháp luật và không có kiến nghị gì.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Ngô Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 50/2020/DSST ngày 28/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện CB, tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn Ngô Văn H thực hiện quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại các điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Ngô Văn H trình bày: anh đồng ý bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền chi phí khám, chữa bệnh và tiền thuốc điều trị theo hóa đơn là 1.319.802 đồng và không đồng ý bồi thường cho bà Nguyễn Thị H tiền công lao động 2.500.000 đồng với lý do bà H vẫn đi làm bình thường.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Văn H, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[3.1] Ngày 18/12/2019, anh Ngô Văn H có hành vi đánh bà Nguyễn Thị H gây thương tích. Theo giấy chứng nhận thương tích ngày 20/12/2019 của Bệnh viện đa khoa khu vực Cai Lậy thể hiện thương tích của bà Nguyễn Thị H như sau: đau sưng nề vùng chẩm, sưng bầm cánh tay (P) 1/3 trên trước trong cánh tay (P); đau sưng nề mạng sườn (P). Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Ngô Văn H thừa nhận có đánh bà Nguyễn Thị H và đồng ý bồi thường chi phí khám chữa bệnh cho bà Nguyễn Thị H số tiền 1.319.802 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm buộc anh H bồi thường cho bà H chi phí khám chữa bệnh với số tiền 1.319.802 đồng, là có căn cứ.

[3.2] Về tiền thu nhập thực tế bị mất của bà Nguyễn Thị H: Bản án sơ thẩm buộc anh Ngô Văn H bồi thường cho bà Nguyễn Thị H tiền công lao động bị mất là 250.000 đồng/ngày x 10 ngày = 2.500.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh H không đồng ý bồi thường cho bà H số tiền này, vì anh cho rằng bà H vẫn đi làm bình thường. Tuy nhiên, anh Ngô Văn H thống nhất tiền công lao động phổ thông hiện nay là 250.000 đồng/ngày. Đồng thời, anh cũng thừa nhận bà Nguyễn Thị H và anh đều là người mua bán gạo, nhưng anh cho rằng thu nhập giữa anh và bà H không giống nhau vì bà H là người mua bán nhỏ.

[3.3] Bà Nguyễn Thị H cho rằng bà là người mua bán tự do, thu nhập của bà hàng tháng là 500.000 đồng/ngày, nhưng do bà không chứng minh được mức thu nhập này, nên bà chỉ yêu cầu số tiền 250.000 đồng/ngày.

[3.4] Xét, theo các hóa đơn của bà Nguyễn Thị H cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm thì bà Nguyễn Thị H đã đi khám bệnh 02 ngày vào các ngày 19, 20 tháng 12 năm 2020, đồng thời, theo đơn thuốc ngày 20/12/2020 của Bệnh viện đa khoa khu vực Cai Lậy thì bà H uống thuốc 07 ngày. Mặc khác, với tình trạng thương tích của bà H theo giấy chứng nhận thương tích ngày 20/12/2020 của Bệnh viện đa khoa khu vực CL, thì bà H phải nghỉ ở nhà, không đi làm cũng là phù hợp. Bên cạnh đó, anh Ngô Văn H cũng không có chứng cứ gì chứng minh bà H không có việc làm và không có thu nhập hoặc đi làm bình thường. Do đó, án sơ thẩm buộc anh Ngô Văn H bồi thường cho bà H thu nhập thực tế bị mất với số tiền 2.500.000 đồng, là phù hợp.

[4] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Tiền Giang, là có căn cứ.

[5] Về án phí: Anh Ngô Văn H phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 357; Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

X: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Văn H.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 50/2020/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện CB, tỉnh Tiền Giang.

Buộc anh Ngô Văn H phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 3.819.802 đồng (Ba triệu tám trăm mười chín ngàn tám trăm lẻ hai đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Ngô Văn H chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Về án phí: Anh Ngô Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003907 ngày 18 tháng 8 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CB, tỉnh Tiền Giang, nên còn phải nộp 300.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại đi ều 30 Luật thi hành án dân sự.


29
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về