Bản án 41/2017/HSST ngày 07/07/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 41/2017/HSST NGÀY 07/07/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2017/HSST ngày 01 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

O; tên gọi khác: Không, sinh ngày 08 tháng 6 năm 1981, tại V - Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; số CMND 082064261; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Nùng; con ông Lương Văn B và bà Hoàng Thị C; chồng: Hoàng Văn T; con có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009; tiền sự: Không, tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2017, đến ngày 12/01/2017 cho tại ngoại. Bị cáo bị bắt tạm giữ lại ngày 31/5/2017, tạm giam ngày 01/6/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn L là Luật sư cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo O bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/01/2017, Tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại đường Quốc lộ 4A, đoạn thuộc thôn T, xã T, huyện V, phát hiện một người nam giới vừa đi ra khỏi cửa nhà của O có biểu hiện nghi vấn, Tổ công tác đã tiến hành yêu cầu người nam giới đứng lại để kiểm tra, người nam giới tự khai nhận họ tên Lý Luận T, sinh năm 1993, trú tại: Thôn K, xã T, huyện V, tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong túi quần bên phải của Lý Luận T đang mặc có 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 03 gói giấy kẻ dòng màu trắng, đều đựng chất bột màu trắng nghi là chất ma túy. Lý Luận T khai nhận 03 gói giấy là chất ma túy Heroine vừa mua với O với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, mục đích đem về sử dụng. Tổ công tác đã yêu cầu Lý Luận T quay vào trong nhà O để làm rõ, vào nhà O khai nhận vừa bán cho Lý Luận T 03 gói ma túy với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, đồng thời O đã tự giác giao nộp 01 lọ nhựa bên trong có 01 gói nilon và 10 gói nhỏ chất ma túy và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng cho Tổ công tác Công an huyện Văn Lãng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 14 giờ 40 phút ngày 10 tháng 01 năm 2017.

* Đồ vật, tài sản tạm giữ như sau:

Thu giữ của Lý Luận T: 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 03 gói giấy kẻ dòng màu trắng, đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu "QT Lý Luận T";

Thu giữ của O gồm: 01 lọ nhựa màu trắng, bên trong có 01 gói nilon màu trắng và 10 gói giấy kẻ dòng màu trắng, đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu "QT O"; 01 (một) chứng minh thư nhân dân mang tên O; 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Lãng đã khám xét khẩn cấp nơi ở đối với O, tại: Thôn T, xã T, huyện V về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Qua khám xét thu giữ đồ vật, tài sản gồm: 01 chiếc kéo kích thước 20 cm, cán nhựa màu đỏ; 16 mảnh giấy kẻ dòng màu trắng kích thước 02 x 02cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng đã qua sử dụng số IMEI có ba số cuối là 48/1, bên trong lắp sim Viettel.

Tại bản kết luận giám định số: 94/KL-PC54 ngày 12/01/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong 03 gói giấy thu giữ của Lý Luận T đều là chất ma túy Heroine có tổng trọng lượng là 0,016 gam (đã trừ bì). Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu trắng và 10 gói giấy thu giữ của O đều là chất ma túy Heroine có tổng trọng lượng 0,672 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra O khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 09/01/2017 O đi bốc vác hàng thuê, đến khoảng 16 giờ thì gặp anh S khoảng 50 tuổi, người Trung Quốc, O có quen biết anh S từ trước, vì O thường xuyên bốc vác hàng ở đường mòn gốc bưởi, anh S nói vác hàng không có tiền đâu và bảo O lấy chất ma túy về bán kiếm lời. Sau đó S đưa cho O 01 lọ nhựa nhỏ, bên trong đựng ma túy và bảo O cầm về bán, khi nào bán hết thì đưa cho S 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng, O đồng ý và nhận lọ nhựa đựng ma túy rồi về nhà, mở ra bên trong lọ nhựa có 08 gói nhỏ, đã được gói sẵn bằng giấy kẻ dòng màu trắng. Đến khoảng 20 giờ có anh Lý Luận T ở thôn K, xã T, là người nghiện đến nhà hỏi mua 50.000 (năm mươi nghìn) đồng ma túy, O lấy 01 gói nhỏ trong lọ nhựa san bớt một nửa ra, bán cho Lý Luận T một nửa với giá 50.000 (năm mươi nghìn) đồng. Đến khoảng 21 giờ có Phương Văn L ở thôn K, xã T đến hỏi mua chất ma túy, O đã bán cho Phương Văn L 01 gói với giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Ngày hôm sau (ngày 10/01/2017) O để ma túy ở nhà và đi vác hàng, đến khoảng 13 giờ cùng ngày về nhà O lấy kéo, giấy màu trắng ra cắt thành nhiều mảnh nhỏ rồi mang 06 gói ma túy trong lọ nhựa ra chia được 13 gói nhỏ, còn thừa một ít O gói lại vào túi nilon màu trắng, O cho các gói ma túy vào trong lọ nhựa cất vào trong túi áo khoác đang mặc. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/01/2017 O bán cho Lý Luận T 03 gói ma túy với giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng/gói, thì bị Công an bắt quả tang. 

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 01/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Đã truy tố bị cáo O ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo O phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 08 đến 09 năm tù giam. Về hình phạt bổ sung, bị cáo không có tài sản, đề nghị không áp dụng.

Về tang vật vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy phong bì đựng ma túy, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và 01 chứng minh nhân dân. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa nhất trí với tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố và đề nghị về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo thành khẩn khai báo, sinh sống ở xã vùng núi biên giới, nhận thức pháp luật hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn chồng bị động kinh, con thứ 02 được 09 tuổi không biết nói, không biết đi. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, theo Nghị quyết 144/2016/QH13 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án 07 năm tù.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Lãng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo O đã nhận ma túy với người đàn ông mang tên S về bán cho Lý Luận T 02 lần, bán cho Phương Văn L 01 lần. Tại bản kết luận giám định số: 94/KL-PC54 ngày 12/01/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong 03 gói giấy thu giữ của Lý Luận T đều là chất ma túy Heroine có tổng trọng lượng là 0,016 gam (đã trừ bì). Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói ni lon màu trắng và 10 gói giấy thu giữ của O đều là chất ma túy Heroine có tổng trọng lượng 0,672 gam (đã trừ bì). Do đó, bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo bán lẻ chất ma túy để kiếm lời, đã tiếp tay cho tệ nạn xã hội phát sinh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, bị quần chúng nhân dân lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng vì mục đích muốn kiếm tiền dễ dàng, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện. Do đó cần xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[4] Xét về nhân thân: Bị cáo có trình độ văn hóa lớp 6/12, có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, do không có việc làm, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đi vác hàng thuê, người Trung Quốc đưa ma túy cho để bán, bị cáo đã nhận ma túy về bán kiếm lời, nên đã phạm tội. Sau khi phạm tội cho bị cáo được tại ngoại để chăm lo gia đình con cái, bị cáo lại không chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh bị cáo không có mặt tại địa phương, gây khó khăn cho công tác điều tra, nên Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi phạm tội bị cáo thú nhận toàn bộ hành vi bán ma túy cho các đối tượng nghiện. Ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo sinh sống ở xã vùng núi biên giới, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn con thứ 2 bị bại não không biết nói, không biết đi, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không sở hữu tài sản gì có giá trị (thể hiện tại biên bản xác minh ngày 10/3/2017), nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lý Luận T là người mua ma túy bị bắt quả tang, do số lượng ma túy tàng trữ trái phép, theo quy định của pháp luật thì chưa đủ định lượng xử lý hình sự. Lý Luận T, Phương Văn L là người nghiện ma túy, đã mua ma túy với bị cáo O để sử dụng trái phép. Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ chuyển đến Ủy ban nhân dân xã nơi các đối tượng có hộ khẩu thường trú để xử lý theo quy định, Viện kiểm sát không truy tố, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Đối với người đàn ông tên S khoảng 50 tuổi (người Trung Quốc) đã đưa ma túy cho bị cáo O bán, do phạm vi ngoài lãnh thổ, nên không điều tra xác minh làm rõ được.

[10] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì thư niêm phong, ký hiệu “QT Lý Luận T” chứa chất ma túy đã qua giám định; một phong bì thư niêm phong, ký hiệu “QT O” chứa chất ma túy đã qua giám định. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành. Tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc kéo bằng kim loại có kích thước 20cm, cán nhựa màu đỏ; 16 mảnh giấy kẻ dòng màu trắng kích thước 02 x 02cm. Đây là vật liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng. Tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng đã qua sử dụng có số IMEI có ba số cuối là 48/1, bên trong lắp sim Viettel. Bị cáo không dùng liên lạc mua bán ma túy; 01 (một) chứng minh thư nhân dân mang tên O, là giấy tờ tùy thân. Trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, là tiền do bán ma túy mà có. Tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Truy thu số tiền do bị cáo bán ma túy cho Lý Luận T một nửa gói 50.000 (năm mươi nghìn) đồng, bán cho Phương Văn L 01 gói 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Tổng cộng 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng, để sung quỹ Nhà nước.

[11] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, đề nghị mức án 08 đến 09 năm tù giam là cao, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị xử lý tang vật và không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Do đó, người bào chữa cho bị cáo, đề nghị về các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng

cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo O phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, Điều 33, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo O 07 (bảy) năm tù giam, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2017 đến ngày 12/01/2017 là 03 (ba) ngày. Bị cáo còn phải thi hành tiếp 06 (sáu) năm 11 (mười một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày, thời hạn tính từ ngày 31 tháng 5 năm 2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c, đ khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì thư niêm phong, ký hiệu “QT Lý Luận T” chứa chất ma túy đã qua giám định; 01 phong bì thư niêm phong, ký hiệu “QT O” chứa chất ma túy đã qua giám định; 01 chiếc kéo bằng kim loại có kích thước 20cm, cán nhựa màu đỏ; 16 mảnh giấy kẻ dòng màu trắng kích thước 02 x 02cm

* Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

* Trả lại cho bị cáo gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu trắng đã qua sử dụng có số IMEI có ba số cuối là 48/1, bên trong lắp 01 sim Viettel; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên O.(các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2017 và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 20/01/2017).

Truy thu số tiền do bị cáo bán ma túy cho Lý Luận T, Phương Văn L mà có là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng, để sung quỹ Nhà nước.

3. Án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo O phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


135
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về