Bản án 406/2019/HSST ngày 22/11/2019 về tội tổ chức đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 406/2019/HSST NGÀY 22/11/2019 VỀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC

Trong các ngày 16 và 22 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 327/2019/HSST ngày 20 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 393/2019/HSST-QĐ ngày 29/10/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2019/HSST-QĐ ngày 09/11/2019 đối với các bị cáo:

1. Hồ Thị Thúy Ng1, sinh năm 1988 tại tỉnh B; thường trú: Số 4 khu dân cư H, phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Th1ên chúa; con ông Hồ Nguyễn X, sinh năm 1941 và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948, có cH1 tên Phạm Xuân V, sinh năm 1986 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 29/11/2012 Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 35 tháng 28 ngày về tội Đưa hối lộ, theo bản án số 394. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

2. Hồ Nguyễn Ph1, sinh năm 1979 tại tỉnh B; thường trú: Tổ 17 ấp 2, xã B, huyện X, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Th1ên chúa; con ông Hồ Nguyễn X, sinh năm 1941 và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948, có vợ tên Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980 và có 02 con sinh năm 2000 và năm 2002; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 24/6/2019, có mặt

3.Lê Thị L1, sinh năm 1985 tại tỉnh Q; thường trú: Thôn 2 xã Q, huyện Q, tỉnh Q; tạm trú: 133B đường ống nước, khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Lê Ngọc L, sinh năm 1955 và con bà Diệp Thị L, sinh năm 1958, có cH1 tên Giả Đức Ngh, sinh năm 1982 và có 02 con sinh năm 2006 và năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

4. Nguyễn Đoàn Mai Ph2, sinh năm 1992 tại tỉnh B; thường trú: 524/14 khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965 và con bà Đoàn Thị H1 Th, sinh năm 1973, có cH1 tên Võ Quý K, sinh năm 1982 và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

5.Nguyễn Thị Mai L2, sinh năm 1994 tại tỉnh B; thường trú: 669 khu phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đức Nh, sinh năm 1960 và con bà Lê Thị H, sinh năm 1971, có cH1 tên Ngô Trọng S, sinh năm 1993 và có 02 con sinh năm 2013 và năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

6. Lê Thị Bảo D1, sinh năm 1990 tại tỉnh B; thường trú: Số 70/8 (57 Nguyễn Hữu C), khu phố Đ, phường Đ, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Lê Khắc H, sinh năm 1962 và con bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1966, có cH1 tên Nguyễn Lợi H, sinh năm 1987 và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

7. Đặng Thị Thu Tr1, sinh năm 1992 tại tỉnh H; thường trú: 10/60 khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B; địa chỉ: 60/4 đường cây G, khu phố Nh, phường D, thị xã D tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1955 và con bà Hoàng Thị Ng, sinh năm 1965, có cH1 tên Trần Sỹ H, sinh năm 1992 và có 1 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 đến ngày 18/6/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, có mặt

8. Võ Thị Th1, sinh năm 1989 tại tỉnh T; thường trú: Ấp Ph, xã G, huyện Tr, tỉnh T; tạm trú: 68/11 khu phố Đ, phường Đ, phường D, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Võ Ngọc Th, sinh năm 1965 và con bà Phan Thị Ngọc L, sinh năm 1966, có chồng tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1985 và có 02 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

9. Phạm Thị H1, sinh năm 1988 tại tỉnh Q; thường trú: 05/A13 khu phố 3, phường A, thị xã Th, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Phạm Ngọc A, sinh năm 1936 và con bà Đoàn Thị L, sinh năm 1940, có chồng tên Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991 và có 02 con sinh năm 2014 và năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

10. Đặng Thị Cẩm V1, sinh năm 1991 tại Thành phố H; thường trú: 55/3 tổ 13 khu phố Đ, phường B, thị xã Th, tỉnh H; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn V, sinh năm 1963 và con bà Đặng Thị X, sinh năm 1963, có chồng tên Nguyễn Vũ Kim H, sinh năm 1991 và có 02 con sinh năm 2015 và năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

11. Phạm Thị Kim Ng2, sinh năm 1991 tại tỉnh B; thường trú: 80/7 khu phố Th, phường D, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Phạm Tùng S, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1969, có chồng tên Phạm Văn C, sinh năm 1983 và có 03 con sinh năm 2017 và năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

12. Lê Thị H2, sinh năm 1982 tại tỉnh Q; thường trú: Thôn 1 xã E, huyện AH, tỉnh Đ; chỗ ở:37/58 khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Lê Ngọc L, sinh năm 1954 và con bà Diệp Thị L, sinh năm 1958, có chồng tên Trần Văn H, sinh năm 1980 và có 02 con sinh năm 2004 và năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 18/6/2019, có mặt

Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị Dung T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Đặng Thị Thu Tr1, Đặng Thị Cẩm V1, Nguyễn Đoàn Mai Ph2, Phạm Thị H1, Lê Thị Bảo D1, Nguyễn Thị Mai L2, Võ Thị Th1, Phạm Thị Kim Ng2, Lê Thị L1, Lê Thị H2 và Hồ Thị Thúy Ng1 là bạn bè , bị cáo Hồ Nguyễn Ph1 là anh ruột của bị cáo Ng1.

Khoảng 13 giờ, ngày 18/06/2019, các bị cáo Đặng Thị Thu Tr1, Đặng Thị Cẩm V1, Nguyễn Đoàn Mai Ph2, Phạm Thị H1 cùng một người phụ nữ (không rõ nhân thân) đến nhà bị cáo Ng1 địa chỉ số 4 khu dân cư H khu phố T, phường Đ, thị xã Di, B để chơi. Tại đây, bị cáo Ng1 rủ chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài cào 03 lá tính điểm. Bị cáo Ng1 nói bị cáo Ph1 “anh đi ra ghế trước cửa nhà cảnh giới và mở cửa cho bạn vào nhà đánh bạc” khi có người đến Ng1 dùng điện thoại Nokia 105 màu xanh sim số 0972.684.685 điện thoại cho Ph1 qua máy điện thoại di động hiệu Masstel A115 màu xám, sim số 0982.683.001 để Ph1 ở phía dưới mở cửa. Sau đó Ng1 lấy bộ bài tây có sẵn trong nhà rồi cùng đồng phạm đánh bạc, cách thức chơi các bị cáo sử dụng lá bài từ 1 đến 9 trong bộ bài tây 52 lá, nhà cái sẽ chia cho mỗi tụ 03 lá bài, nếu tổng số điểm của 03 lá bài cộng lại được 10 điểm thì được nhà cái chung gấp đôi số tiền đặt cược, nếu tụ bài có 03 lá bài giống nhau thì được nhà cái chung gấp 03 lần số tiền đặt cược, nếu tụ bài có 03 lá bài có số liên tiếp nhau, cùng chung một nước bài thì được nhà cái chung gấp 04 lần số tiền đặt cược, còn lại sẽ được tính điểm bình thường để so với nhà cái. Mỗi ván bài các bị cáo đặt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Nhà cái thay tua nhưng không bắt buộc. Trong quá trình làm cái, ai làm cái thắng thì xâu cho bị cáo Ng1 số tiền 100.000 đồng. Tất cả đánh bạc đến 14 giờ 30 Phút cùng ngày có bị cáo Lê Thị Bảo D1, Nguyễn Thị Mai L2, Võ Thị Th1 đến cùng tham gia, tất cả chơi đến 15 giờ 30 Phút cùng ngày bị cáo Phạm Thị Kim Ng2, Lê Thị L1, Lê Thị H2 đến cùng tham gia đánh bạc, thời điểm này bị cáo Ng1 và V1 không tham gia đánh bài nữa mà lên giường ngồi ăn trái cây. Cả nhóm còn lại đánh bạc đến 16 giờ 15 Phút bị đội cảnh sát hình sự Công an thị xã Dĩ An kiểm tra hành chính bắt quả tang Ng1 cùng các đồng phạm đánh bạc thắng thua bằng tiền, riêng người phụ nữ không rõ nhân thân tẩu thoát.

Vật chứng thu giữ: Tiền tại chiếu bạc 8.700.000 đồng (trong đó có 300.000 đồng tiền xâu các bị cáo đã đưa cho Ng1 được để kế bên chiếu bạc); 01 bộ bài tây 52 lá; 01 tấm vải màu H1 các bị cáo dùng để ngồi đánh bạc; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh sim số 0972.684.685 của bị cáo Ng1; 01 điện thoại di động hiệu Masstel A115 màu xám, sim số 0982.683.001 của bị cáo Ph1.

Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc.

Hồ Thị Thúy Ng1 cầm theo 31.500.000 đồng, sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt Ng1 thua 1.500.000 đồng thu giữ trong người số tiền 30.000.000 đồng.

Đặng Thị Thu Tr1, Nguyễn Đoàn Mai Ph2 chơi đánh bạc chung 01 tụ bài (Tr1 bỏ ra 4.000.000 đồng, Ph2 bỏ ra 4.000.000 đồng, khi bị bắt Tr1, Ph2 thắng 1.900.000 đồng).

Lê Thị L1 mang theo 16.000.000 đồng, sử dụng 6.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt L1 thua 5.350.000 đồng thu giữ trong người L1 số tiền 10.650.000 đồng. Võ Thị Th1 mang theo 30.000.000 đồng, sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt Th1 thắng 6.700.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 33.000.000 đồng, thu dưới chiếu bạc 3.700.000 đồng.

Lê Thị Bảo D1 mang theo và sử dụng 5.000.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt hòa vốn, bị thu giữ trong người số tiền 5.000.000 đồng.

Lê Thị H2 mang theo và sử dụng 8.300.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt hòa vốn, thu giữ trong người số tiền 4.800.000 đồng, thu tại chiếu 3.500.000 đồng.

Đặng Thị Cẩm V1 mang theo 41.000.000 đồng, sử dụng 4.000.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thua 250.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 40.750.000 đồng.

Phạm Thị H1 mang theo và sử dụng 4.800.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thua 2.000.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 2.800.000 đồng.

Nguyễn Thị Mai L2 mang theo 34.800.000 đồng, sử dụng 4.800.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt không thắng không thua, thu giữ trong người số tiền 33.600.000 đồng, thu dưới chiếu bạc 1.200.000 đồng.

Phạm Thị Kim Ng2 mang theo 21.400.000 đồng, sử dụng 1.400.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thắng 200.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 21.600.000 đồng.

Bị cáo Hồ Nguyễn Ph1 không tham gia đánh bạc nhưng có nhiệm vụ cảnh giới, mở cửa cho số người vào đánh bạc.

Bản Cáo trạng số 338/CT – VKS ngày 18 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo + Hồ Thị Thúy Ng1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 và tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định điểm b,c,d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự + Hồ Nguyễn Ph1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự Các bị cáo: Lê Thị L1, Nguyễn Đoàn Mai Ph2, Nguyễn Thị Mai L2, Lê Thị Bảo D1, Đặng Thị Thu Tr1, Võ Thị Th1, Phạm Thị H1, Đặng Thị Cẩm V1, Phạm Thị Kim Ng2, Lê Thị H2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng về tội Đánh bạc Áp dụng điểm b, c, d khoản 1 Điều 322, điểm n, s khoản 1 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1 từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng về tội Tổ chức đánh bạc. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Ng1 chấp hành khoản tiền phạt chung từ 140.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Nguyễn Ph1 từ 50.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng về tội Tổ chức đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị L1 từ 45.000.000 đồng đến 55.000.000 đồng Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn Mai Ph2 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mai L2 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Bảo D1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị Thu Tr1 từ 35.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Thị Th1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị H1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị Cẩm V1 từ 30.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim Ng2 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị H2 từ 50.000.000 đồng đến 55.000.000 đồng Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá; 01 tấm vải màu H1; sim điện thoại số 0972.684.685 và sim số 0982.683.001. Tịch thu sung vào Ng2 sách nhà nước 48.800.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Masstel A115 màu xám Các bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, không bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Ng1, Ph1, L1, Ph2, Tr1, H1, V1 xin giảm nhẹ mức phạt tiền. Các bị cáo L2, D1, Th1, Ng2 và H2 xin giảm nhẹ mức phạt tiền do hiện hoàn cảnh khó khăn đang phải nuôi con còn nhỏ, không có việc làm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội D1 vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Chứng cứ xác định có tội của các bị cáo: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/6/2019, lời khai người làm chứng, biên bản ghi lời khai các bị cáo thể hiện ngày 18/6/2019, tại nhà bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1 địa chỉ số 4 khu dân cư Hoàng Hùng 2, khu phố Tây A, phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương các bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1, Lê Thị L1, Nguyễn Đoàn Mai Ph2, Nguyễn Thị Mai L2, Lê Thị Bảo D1, Đặng Thị Thu Tr1, Võ Thị Th1, Phạm Thị H1, Đặng Thị Cẩm V1, Phạm Thị Kim Ng2, Lê Thị H2 cùng với người phụ nữ không rõ nhân thân đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức chơi bài cào ba lá tính điểm với mỗi ván đặt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, trước khi chơi các bị cáo thỏa thuận khi ai làm cái thắng phải xâu tiền cho bị cáo Ng1 100.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc 48.800.000 đồng. Như vậy, hành vi trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Ng1 ngoài tham gia đánh bạc còn sử dụng địa điểm quản lý của mình cho 10 người trở lên đánh bạc, tổng số tiền đánh bạc 48.800.000 đồng, bị cáo còn nói anh ruột của mình là bị cáo Hồ Nguyễn Ph1 cảnh giới, mở cửa cho số người là bạn của Ng1 vào đánh bạc. Hành vi của bị cáo Ng1 đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc, được quy định điểm b, c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Hồ Nguyễn Ph1 không tham gia đánh bạc, bị cáo biết bị cáo Ng1 cùng bạn của Ng1 đánh bạc thắng thua bằng tiền, bị cáo có nhiệm vụ cảnh giới, mở cửa khi Ng1 điện thoại để cho bạn Ng1 vào tham gia đánh bạc. Hành vi của bị cáo Ph1 đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc, được quy định điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng số 338/CT-VKS ngày 18/9/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo cũng như trình bày luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Về tội Đánh bạc:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Thị L1, Nguyễn Đoàn Mai Ph2, Nguyễn Thị Mai L2, Lê Thị Bảo D1, Đặng Thị Thu Tr1, Võ Thị Th1, Phạm Thị H1, Đặng Thị Cẩm V1, Phạm Thị Kim Ng2, Lê Thị H2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Ng1, Tr1, V1, Ng2 khi phạm tội đang có thai. Tình tiết trên được quy định tại điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với tội tổ chức đánh bạc:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ng1, Ph1 không có Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ng1, Ph1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Ng1 khi phạm tội đang có thai. Tình tiết trên được quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Ph1, L1, Ph2, L2, D1, Tr1, Th1, H1, V1, Ng2, H2 có nhân thân tốt thể hiện không có tiền án tiền sự, các bị cáo nhất thời phạm tội.

Bị cáo Ng1 có nhân thân xấu thể hiện việc năm 2012 bị xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 35 tháng 28 ngày về tội đưa hối lộ. Mặc dù bị cáo được xóa án tích, lần phạm tội này thể hiện sự không hướng Th1ện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật.

[2] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù (bị cáo Ng1, Ph1 phạm tội nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 05 năm tù), các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng tại địa Ph2. Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc được xem là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm hình sự khác. Do vậy, hành vi trên của các bị cáo phải được xét xử nghiêm mới có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

[3] Trong vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn do không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể từng bị cáo nên không xem là phạm tội có tổ chức, các bị cáo tham gia với vai trò người thực hành.

[4] Xét, các bị cáo là thành phần nhân dân lao động, nhất thời phạm tội và hiện đang phải nuôi, chăm sóc con còn nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, số tiền đánh bạc đối với từng bị cáo để có mức hình phạt tiền phù hợp.

[5] Trong vụ án còn có người phụ nữ không rõ nhân thân cùng tham gia đánh bạc. Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tách xác minh xử lý sau là phù hợp.

[6] Đối với vật chứng: 01 bộ bài tây 52 lá; 01 tấm vải màu H1; sim điện thoại số 0972.684.685 và sim số 0982.683.001 sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 48.800.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Masstel A115 màu xám sử dụng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung vào Ng2 sách nhà nước.

[7] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt tiền đối với bị cáo Ng1 về tội Đánh bạc, bị cáo Ph1, L1, Ph2, L2, D1, Tr1, Th1, H1, V1, Ng2 phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Đối với mức phạt tiền đối với bị cáo Ng1 về tội Tổ chức đánh bạc, bị cáo H2 về tội Đánh bạc có phần nhẹ, Hội đồng xét xử xử phạt mức phạt tiền bị cáo Ng1, H2 cao hơn so với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1, Hồ Nguyễn Ph1 phạm tội Tổ chức đánh bạc. Các bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1, Lê Thị L1, Nguyễn Đoàn Mai Ph2, Nguyễn Thị Mai L2, Lê Thị Bảo D1, Đặng Thị Thu Tr1, Võ Thị Th1, Phạm Thị H1, Đặng Thị Cẩm V1, Phạm Thị Kim Ng2, Lê Thị H2 phạm tội Đánh bạc.

1.1 Căn cứ điểm b, c, d khoản 1 Điều 322, điểm n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng)

1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Ng1 chấp hành hình phạt chung của hai tội với số tiền phạt là 240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng) 1.3 Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Hồ Nguyễn Ph1 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).

1.4 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lê Thị L1 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng).

1.5 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn Mai Ph2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

1.6 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mai L2 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

1.7 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lê Thị Bảo D1 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng).

1.8 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Thu Tr1 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

1.9 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Võ Thị Th1 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng).

1.10 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Phạm Thị H1 43.000.000 đồng (bốn mươi ba triệu đồng).

1.11 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Cẩm V1 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

1.12 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim Ng2 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

1.13 Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị H2 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng).

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 48.800.000 đồng (bốn mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng); 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Masstel A 115 màu xám .

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá; 01 tấm vải màu H1; sim số điện thoại 0982.783.001 và 0972.684.685. Theo biên lai thu tiền số 01260, biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/9/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá

14. Các bị cáo Hồ Thị Thúy Ng1, Hồ Nguyễn Ph1, Lê Thị L1, Nguyễn Đoàn Mai Ph2, Nguyễn Thị Mai L2, Lê Thị Bảo D1, Đặng Thị Thu Tr1, Võ Thị Th1, Phạm Thị H1, Đặng Thị Cẩm V1, Phạm Thị Kim Ng2, Lê Thị H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 406/2019/HSST ngày 22/11/2019 về tội tổ chức đánh bạc

Số hiệu:406/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về