Bản án 40/2020/HS-ST ngày 29/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 40/2020/HS-ST NGÀY 29/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37B/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H), sinh năm 1973 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị P (đã chết); vợ là Nguyễn Thị L (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ – XPHC ngày 16/3/2009 của công an huyện Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương đã xử phạt Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) với hình thức phạt tiền 350.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 17/4/2009 chấp hành xong quyết định.

Bản án số 88/2011/HSPT ngày 30/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều), tỉnh Quảng Ninh xử phạt Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong phần án phí ngày 23/4/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1976

Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1965

Nơi cư trú: Khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, có mặt.

* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1976

Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 14/02/2020, Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) cùng anh Nguyễn Văn H đi xe môtô BKS 34F8 – 2841 của anh H đến nhà chị Nguyễn Thị B ở khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương chơi. Khi đến sân nhà chị B, T quan sát bên cạnh nhà chị B có bãi đất trống của chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C đã mượn làm vườn cây cảnh, trong đó có 01 cây hoa giấy cao 1,65m, tán rộng 1,46m nên nảy sinh ý định chiếm đoạt cây hoa giấy đó của anh C. Sau khi ăn cơm tối nhà chị B, anh H say rượu và ngủ lại nhà chị B, còn T mượn xe môtô của anh H để về nhà anh H ngủ. Đến khoảng 02 giờ ngày 15/02/2020, T thức dậy và điều khiển xe môtô của anh H đi đến vườn cây cảnh của anh C để chiếm đoạt cây hoa giấy. Khoảng 02 giờ 15 phút, khi đến bãi đất để cây cảnh, T đỗ và dựng xe ở rìa đường, hướng đầu xe quay ra đường quốc lộ 18, đuôi xe hướng đường vào trại giam H. Quan sát xung quanh không có người, T mở cổng sắt đi vào vườn cây đến chỗ cây hoa giấy đang được trồng trong chậu, dùng tay phải cầm vào thân cây và lay cây, còn tay trái tì vào chậu cây để làm điểm tựa lấy lực. Sau khi lay bật gốc cây, T dùng hai tay nhấc cây hoa giấy ra khỏi chậu, bê ra ngoài chỗ dựng xe, đặt cây hoa giấy vào phần yên xe rồi ngồi lên xe, tay phải lái xe, tay trái giữ cây rồi điều khiển xe đi về nhà anh H. Khi về cách nhà anh H khoảng 50 mét, T giấu cây hoa giấy vào bụi cây ven đường để tránh mọi người phát hiện rồi đi xe về nhà anh H ngủ. Buổi chiều cùng ngày, anh C có đơn trình báo, cơ quan điều tra đã triệu tập T lên làm việc và làm rõ hành vi của T. Cơ quan điều tra đã thu giữ cây hoa giấy và chiếc xe mô tô BKS 34F8 – 2841 mà T mượn của anh H.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KLGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020, của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Chí Linh kết luận: 01 cây hoa giấy có đặc điểm cao 1,65 mét, tán rộng 1,46 mét tại thời điểm ngày 15/02/2020 có giá trị 12.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 37/CT -VKS - CL ngày 17/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với mình là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt. Anh Nguyễn Văn H không đề nghị được nhận lại chiếc xe môtô mà bị cáo đã sử dụng của anh để làm phương tiện phạm tội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh trình bay luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/02/2020; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết; về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe môtô, gắn biển kiểm soát 34F8-8241; về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 15/02/2020, tại vườn cây cảnh của anh Nguyễn Văn C ở khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh C 01 cây hoa giấy trị giá 12.000.000 đồng.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.000.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo.

[4] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đinh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Ngày 16/3/2009, bị cáo bị Công an huyện Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 30/12/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy bị cáo đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính và đã được xóa án tích đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính và bản án nêu trên nhưng xác định bị cáo là người có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém.

[7] Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã thực hiện để trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn C là người bị hại đã nhận lại cây hoa giấy mà bị cáo chiếm đoạt nay không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe môtô BKS 34F8 – 2841, anh Nguyễn Văn H khai mua của một người không quen biết, không có giấy tờ, nay không yêu cầu được nhận lại xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định, kết quả số khung, số máy là hàng chữ số nguyên thủy do nhà chế tạo đóng ra, biển kiểm soát 34F8-2841 không tiến hành giám định do đã cũ nát móp méo, chưa xác định được chủ sở hữu theo số khung và số máy của xe. Do vậy, cần giao chiếc xe trên cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 03 tháng. Nếu quá thời hạn nêu trên mà không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì cho phát mại sung quỹ Nhà nước.

[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/02/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Giao 01 xe môtô biển kiểm soát 34F8 – 2841, nhãn hiệu LONCIN, thân xe có dán chữ HONDA Drem II, màu nâu, cánh yếm màu trắng, không gương, xe đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 34F8-2841, không có gương, xe đã qua sử dụng, số khung LLCXXL306Y1072230, số máy LC150FMG00374880 cho Chi cục thi thành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 03 tháng. Nếu quá thời hạn nêu trên mà không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì cho phát mại sung quỹ Nhà nước.

(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/4/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trọng hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2020/HS-ST ngày 29/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:40/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chí Linh - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về