Bản án 40/2020/HS-ST ngày 10/08/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 40/2020/HS-ST NGÀY 10/08/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

 Trong ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Lương Văn M, sinh năm 1970; nơi sinh: tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn 11, xã N1, huyện S, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn B, sinh năm 1948 và con bà Cầm Thị C, sinh năm 1947; tiền án: 02 tiền án; Bản án số 31/2017/HSST ngày 05/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đăk Nông xử phạt 05 tháng về tội Đánh bạc; ngày 14/5/2018 tiếp tục thực hiện hành vi Đánh bạc, bản án số 64/2018/HSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện Đắk Song xử phạt 07 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt 05 tháng tù theo bản án số 31/2017/HSST ngày 05/7/2017, buộc chấp hành hình phạt chung là 01 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2019, bị tạm giữ ngày 09/5/2020 và cùng ngày được ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại - Có mặt.

2. Nguyễn Huy T, sinh năm 1969; nơi sinh: tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn 11, xã N1, huyện Đắk Song, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Phung (đã chết) và con bà Lê Thị Giáp, sinh năm 1958; bị tạm giữ ngày 09/5/2020 và cùng ngày được ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại - Có mặt.

3. Lê Văn V, sinh năm 1980; nơi sinh: tỉnh Quảng Ngãi; nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã T, huyện S1, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở hiện nay: thôn 11, xã N1, huyện S, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh B, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954; bị tạm giữ ngày 09/5/2020 và cùng ngày được ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại - Có mặt.

4. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990; nơi sinh: tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn 10, xã T2, huyện S, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1963 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; bị tạm giữ ngày 09/5/2020 và cùng ngày được ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại - Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn C1; sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 5, xã N1, huyện S, tỉnh Đắk Nông. (Vắng mặt)

Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn 11, xã N1, huyện S, tỉnh Đắk Nông. (Vắng mặt)

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/5/2020, Nguyễn Văn T1, Lê Văn V, Nguyễn Huy T đến nhà của Lương Văn M tại thôn 11, xã N1, huyện S, tỉnh Đắk Nông, để mua đồ và ngồi uống nước nói chuyện. Khi nói chuyện thì tất cả cùng thống nhất đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh bài phỏm. Sau đó, M trải chiếu nhựa và chăn ra nền nhà tại phòng khách, dùng 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để chơi, rồi tất cả ngồi thành vòng tròn để đánh bạc được thua bằng tiền. Cách thức đánh bài phỏm như sau: từ bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, chia đều số bài đó cho mỗi người 09 quân, người nào đánh trước thì có 10 quân. Số quân bài còn lại không chia để ở giữa sòng bài cho những người chơi bốc và đánh từ phải qua trái (ván kế tiếp đánh vòng ngược lại), nếu ai có 03 đến 05 quân bài cùng chất liên tiếp nhau hoặc có 03 đến 04 quân bài giống nước (còn gọi là bộ ba, tứ quý) thì gọi là phỏm, có 03 phỏm gọi là ù, không có phỏm gọi là cháy bài. Khi người bên phải đánh qua người bên trái, nếu người bên trái ăn được quân bài đó để có phỏm thì không được bốc bài nữa mà phải đánh bài đang cầm trên tay cho người kế bên. Sau khi mỗi người đã đánh 04 quân bài ra sòng bài thì hạ bài xuống tính điểm, người nào có phỏm và số bài không hình thành phỏm cộng lại ít điểm nhất là người về nhất, người nào ít điểm thứ hai là người về nhì, người nào ít điểm thứ ba là người về ba, còn lại là người về cuối. Người nào ù hoặc về nhất thì ăn hết tiền của ba người còn lại. Mức độ thắng thua của mỗi ván bài được quy định như sau: người về nhất thắng tiền người về nhì 20.000đ, thắng tiền người về ba 40.000đ, thắng tiền người về cuối 60.000đ, cháy bài thua 80.000đ và thua ù mất 100.000đ. Quá trình chơi nếu để cho người bên cạnh ăn quân bài thứ nhất và thứ hai thì mất 20.000đ, nếu để ăn quân chốt hạ (quân bài thứ 03 cuối cùng hoặc quân bài thứ 04) mất 40.000đ, nếu đánh cho ăn cả 03 quân rồi ù thì phải đền tiền cho người ù, những người chơi ván bài đó không phải trả tiền. Ngoài ra không quy định cá cược quân bài cá, bài tứ quý và ù tròn (BL 20 -24; 58- 63; 85- 92; 115- 122).

Bắt đầu tham gia đánh bạc, Lương Văn M có số tiền 450.000 đồng, Lê Văn V có số tiền khoảng 2.800.000 đồng, Nguyễn Văn T1 có số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Huy T có số tiền 3.000.000 đồng, sử dụng để tham gia đánh bài phỏm được thua bằng tiền. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/5/2020, bị lực lượng Công an xã N1 phát hiện bắt quả tang thu giữ: trong túi quần trước bên trái của Nguyễn Văn T1 số tiền 510.000 đồng; trong túi quần trước bên phải của Nguyễn Huy T số tiền 2.180.000 đồng, trong ví da túi quần sau bên phải của T số tiền 3.700.000 đồng; trong túi quần sau bên phải của V số tiền 3.700.000 đồng. Quá trình điều tra xác định được như sau: Lương Văn M sử dụng số tiền 450.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt đã thua hết; Lê Văn V sử dụng số tiền 2.810.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 3.700.000 đồng (ăn được khoảng 1.100.000 đồng); Nguyễn Văn T1 sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt thu giữ 510.000 đồng (thua 990.000 đồng); Nguyễn Huy T sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để tham gia đánh bạc. Trong lúc đánh bạc, Nguyễn Văn C1, sinh năm 1983, trú tại thôn 5, xã N1, huyện S, tỉnh Đắk Nông, trả nợ cho T số tiền 2.000.000 đồng, T cất trong ví da không dùng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt T thắng 550.000 đồng, bị thu giữ tổng số tiền là 5.550.000 đồng. Trong quá trình đánh bài phỏm được thua bằng tiền, không có ai vay mượn, thế chấp tài sản hay thu tiền xâu (BL 05-06; 20 -24; 58- 63; 85- 92; 115- 122).

Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đắk Song thu giữ:

01 chiếu nhựa màu xanh; 01 chăn màu đỏ vàng; 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; số tiền 9.760.000 đồng (BL 05- 06).

Cáo trạng số: 42/CTr-VKS ngày 29/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Lương Văn M về tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Huy T, Lê Văn V, Nguyễn Văn T1 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lương Văn M, Nguyễn Huy T, Lê Văn V, Nguyễn Văn T1 khai nhận toàn bộ nội dung hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Lương Văn M, Nguyễn Huy T, Lê Văn V, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị HĐXX: - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn M từ 03 đến 04 năm tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn V từ 06 đến 09 tháng từ nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX tuyên: tịch thu, tiêu hủy 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 chăn màu đỏ vàng; 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.760.000 đồng.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song trả Nguyễn Huy T số tiền 2.000.000 đồng là tiền Thanh không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Song, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2]. Vào tối ngày 08/5/2020, tại nhà Lương Văn M tại địa chỉ: thôn 11, xã N1, huyện S, tỉnh Đắk Nông, Lương Văn M, Nguyễn Huy T, Lê Văn V, Nguyễn Văn T1 cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức “Đánh bài Phỏm”. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, bị Công an huyện Đắk Song bắt quả tang, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.760.000 đồng. Bị cáo Lương Văn M có 02 tiền án, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Như vậy, hành vi của Lương Văn M bị Viện kiểm sát nhân huyện Đắk Song truy tố về tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; Hành vi của Nguyễn Huy T, Lê Văn V, Nguyễn Văn T1 bị Viện kiểm sát nhân huyện Đắk Song, tỉnh Đăk Nông truy tố về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

....

d) Tái phạm nguy hiểm.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhân thân của bị cáo:

3.1. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Trong vụ án này có 04 bị cáo, tuy nhiên vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là như nhau. Bị cáo Lương Văn M có 02 tiền án về tội “đánh bạc”, nhưng không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh, sống tốt hơn mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để “đánh bạc” là 7.760.000 đồng, trong đó: Lương Văn M sử dụng số tiền 450.000 đồng để đánh bạc; Lê Văn V sử dụng số tiền 2.810.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Văn T1 sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Huy T sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để đánh bạc do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để góp phần giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống;

đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng, Nguyễn Huy T cất trong ví da, đây là số tiền trong lúc đánh bạc C1 trả nợ cho T không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song trả Nguyễn Huy T số tiền trên cho Thanh là hoàn toàn đúng pháp luật.

3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình do đó các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Nguyễn Huy T, Lê Văn V, Nguyễn Văn T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Văn V có cha mẹ tham gia cách mạng và được hưởng chính sách thương binh do đó bị cáo Vỹ được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 3.4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

3.3. Đối với chị Bùi Thị H1 (vợ Lương Văn M) không biết việc các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc tại nhà chị H1; anh C1 không tham gia đánh bạc, do đó không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[4]. Các biện pháp tư pháp: Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song trả Nguyễn Huy T số tiền 2.000.000 đồng là tiền Thanh không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 chăn màu đỏ vàng; 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 7.760.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lương Văn M, Nguyễn Huy T, Lê Văn V, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn M: 03 (ba) năm tù, được trừ thời gian tạm giữ 01 ngày (ngày 09/5/2020). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Huy T, Lê Văn V cho UBND xã N1, huyện S, tỉnh Đắk Nông; Giao bị cáo Nguyễn Văn T1 cho UBND xã T2, huyện S, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Các biện pháp tư pháp: Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song trả Nguyễn Huy T số tiền 2.000.000 đồng.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 chăn màu đỏ vàng; 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.

Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 7.760.000 đồng.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Buộc các bị cáo Lương Văn M, Nguyễn Huy T, Lê Văn V, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm./.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2020/HS-ST ngày 10/08/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:40/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Song - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về