Bản án 40/2020/HNGĐ-ST ngày 22/09/2020 về không công nhận quan hệ vợ chồng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 40/2020/HNGĐ-ST NGÀY 22/09/2020 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG

Ngày 22 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 305/2020/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2020 về việc "Không công nhận quan hệ vợ chồng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2020/QĐXX-ST ngày 24 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thu H; nơi cư trú: Số 7/90/81 đường Đà Nẵng, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc Đ; nơi cư trú: Số 30/16 đường Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ dân sự về không công nhận quan hệ vợ chồng, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lưu Thu H trình bày:

Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ chung sống với nhau từ năm 1998 như vợ chồng, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có tổ chức lễ cưới nhưng không đi đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống được một thời gian khoảng 4 năm thì xảy ra mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau. Anh chị thường xuyên xảy ra xô xát va chạm, mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2003 và anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm giữa hai người không còn, chị H làm đơn đề nghị Toà án giải quyết không công nhận quan hệ là vợ chồng giữa chị với anh Nguyễn Quốc Đ, anh Nguyễn Quốc Đ đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 29/7/1998 cháu đã trưởng thành, khi chấm dứt quan hệ vợ chồng chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai và tại phiên hòa giải, bị đơn là anh Nguyễn Quốc Đ trình bày:

Anh Nguyễn Quốc Đ và chị Lưu Thu H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1998 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu tình cảm hai người bình thường anh, chị đã có 01 con chung. Sau này phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau. Anh chị thường xuyên xảy ra xô xát va chạm, mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2003 và anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm giữa hai người không còn, nay chị H làm đơn đề nghị Toà án giải quyết không công nhận quan hệ là vợ chồng giữa anh với chị H, anh Nguyễn Quốc Đ đồng ý.

- Về con chung: Anh Nguyễn Quốc Đ và chị Lưu Thu H có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 29/7/1998 cháu đã trưởng thành, khi chấm dứt quan hệ vợ chồng anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Quốc Đ và chị Lưu Thu H không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 21/8/2020 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ, sau khi hòa giải: Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ đề nghị tòa án giải quyết không công nhận anh, chị là vợ chồng.

- Về con chung: Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 29/7/1998 cháu đã trưởng thành, sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng anh, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về án phí: Chị Lưu Thu H nhận nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện, bản tự khai đề nghị Tòa án không công nhận chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ là vợ chồng, bị đơn anh Nguyễn Quốc Đ vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

[1] Đây là vụ án tranh chấp về không công nhận quan hệ vợ chồng được quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Quốc Đ cư trú tại số 30/16 đường Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về thời hạn giải quyết vụ án:

[2] Ngày 06 tháng 8 năm 2020, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thụ lý vụ án; đến ngày 24 tháng 8 năm 2020, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của bị đơn:

[3] Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Quốc Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Quốc Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án:

- Về không quan hệ vợ chồng:

[4] Chị Lưu Thu H, sinh ngày 23/01/1978 và anh Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 19/03/1974 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1998 đến nay không đăng ký kết hôn mặc dù cả hai anh, chị đều đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống từ đó cho đến nay nhưng anh, chị vẫn không đi đăng ký kết hôn. Như vậy anh, chị đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 về đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung do lấy nhau không có đăng ký kết hôn nên anh, chị không thực sự hiểu nhau, lấy nhau do cảm tính, cuộc sống của anh, chị không có đồng cảm, không hạnh phúc, giữa hai người phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp; anh, chị đã sống ly thân nhau từ năm 2003 cho đến nay không ai còn quan tâm gì đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Nay xác định tình cảm giữa hai người không còn, chị Lưu Thu H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh Nguyễn Quốc Đ, anh Nguyễn Quốc Đ đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

[5] Xét thấy việc chị Lưu Thu H có đơn yêu cầu là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích chung sống không Đ được, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Việc anh Đ tại bản tự khai và tại phiên hòa giải anh Đ đồng ý với đề nghị của chị H là hoàn toàn tự nguyện và đúng quy định của pháp luật. Vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thu H: Tuyên bố không công nhận chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ là vợ chồng.

- Về con chung:

[6] Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 29/7/1998 cháu đã trưởng thành, sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung:

[7] Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[8] Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, chị Lưu Thu H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

[9] Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 8 Điều 28; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9; các điều 14; 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử: Không công nhận Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ là vợ chồng.

- Về con chung: Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 29/7/1998 cháu đã trưởng thành, sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị Lưu Thu H và anh Nguyễn Quốc Đ không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí dân sự: Chị Lưu Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Lưu Thu H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006603 ngày 06/8/2020 tại Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Lưu Thu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Lưu Thu H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Nguyễn Quốc Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


50
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2020/HNGĐ-ST ngày 22/09/2020 về không công nhận quan hệ vợ chồng

Số hiệu:40/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về