Bản án 40/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 40/2019/HS-ST NGÀY 19/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Hôm nay, ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2019/HSST-QĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

V C P, sinh ngày 07 tháng 12 năm 1998, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ 3, ấp 5, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn):

7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông V, sinh năm: 1961 và bà L, sinh năm: 1967; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/10/2019 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Chị T, sinh năm: 1994 (Vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: Ấp 1, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh VC, sinh năm: 1998 (Vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: Ấp 3, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Ông Đ, sinh năm: 1952(Vắng mặt không có lý do). Địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện K, tỉnh Thanh Hóa. Người làm chứng:

Cháu Trần Hoàng Đức, sinh ngày 25/3/2006 (Vắng mặt không có lý do).

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, sinh năm: 1981 (Vắng mặt không có lý do).

Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 20/5/2019, Vày Cá Phạt điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dame, màu nâu, biển số 17H1-7493 chở Trần Hoàng Đức đến nhà bạn gái tại ấp 1, xã Xuân Tây chơi nhưng không gặp, nên Phạt chở Đức quay về. Trên đường về, Phạt dừng xe ở lề đường để đi vệ sinh, còn Đức ngồi trên xe đợi, trong lúc đi vệ sinh, Phạt thấy nhà chị T, tại ấp 1, xã Xuân Tây đóng cửa nên nảy sinh ý định đột nhập trộm cắp tài sản. thực hiện ý định đó, Phạt đi vòng ra phía sau nhà chị Thương thì phát hiện cửa sau không khóa nên mở cửa đi lên phòng khách. Tại đây, Phạt thấy chị Thương nằm ngủ, ở đầu giường có 01 điện thoại di động hiệu OPPO NEO 9, màu đen đang sạc pin nên rút dây sạc bỏ điện thoại vào túi quần thì chị Thương thức dậy nên Phạt cầm điện thoại chạy ra cửa sau tẩu thoát. Sáng ngày 21/5/2019, Phạt mang điện thoại đến một cửa hàng mua bán điện thoại thuộc huyện Xuân Lộc để tiêu thụ, nhưng chủ cửa hàng chỉ mua điện thoại với giá 200.000 đồng nên Phạt không bán mà đem về nhà. Trên đường về nhà, do trời mưa điện thoại bị ướt nên Phạt đem điện thoại của chị Thương ra suối cách nhà khoảng 3km vứt bỏ. Đến ngày 22/5/2019 Phạt bị Công an xã Xuân Tây mời lên làm việc và khai nhận hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận số 27/KL-HĐĐG ngày 27/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ, xác định: Điền thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO9 , màu đen, mua năm 2018 có giá trị 2.560.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSCM ngày 10/9/2019 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Vày Cá Phạt về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vày Cá Phạt mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dame, màu nâu, biển số 17H1-7493, là xe của Vày Cá Sứng, khi bị cáo mượn xe thì anh Sứng không biết Phạt sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ không thu giữ xe trên mà giao lại cho anh Sướng là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác về phần dân sự nên không xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Vày Cá Phạt khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 21 giờ ngày 20/5/2019, bị cáo đã đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà của người bị hại lấy trộm một điện thoại hiệu OPPO NEO 9 rồi nhanh chóng tẩu thoát, sau đó mang đi tiêu thụ, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ, xác định: Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO 9 , màu đen, mua năm 2018 có giá trị 2.560.000 đồng. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo V C P phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm Sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Chỉ vì không có tiền tiêu sài, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, bị cáo đã có hành vi trộm cắp Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO NEO9 , màu đen, mua năm 2018 có giá trị 2.560.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Cần xử bị cáo một mức án đúng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm; Bị cáo phạm tôi lần đầu và thuộc thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 4 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, do đó có căn cứ vào Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo một mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dame, màu nâu, biển số 17H1-7493, là xe của Vày Cá Sứng, khi bị cáo mượn xe thì anh Sứng không biết Phạt sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ không thu giữ xe trên mà giao lại cho anh Sướng là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác về phần dân sự nên không xem xét.

[5] Đối với anh Vày Cá Sứng, khi cho bị cáo mượn xe mô tô không biết do bị cáo dùng để hành vi phạm tội, cháu Trần Hoàng Đức đi cùng bị cáo nhưng không biết bị cáo thực hiện hành vị phạm tội, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ không xử lý hình sự đối với anh Vày Cá Sứng và cháu Trần Hoàng Đức là có căn cứ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo V C P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo V C P 03 (Ba) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2019.

2. Án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

186
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:40/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Mỹ - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 19/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về