Bản án 40/2019/HS-PT ngày 26/02/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 40/2019/HS-PT NGÀY 26/02/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong các ngày 21 và 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 05/2019/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo Nguyễn Minh T, Sum Hoàng Đăng K. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã B.

Họ và tên các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Minh T, sinh năm 1987 tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Khu phố X, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1964; có vợ là Trần Thị Kiều T2, sinh năm 1991 và 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ngày 20/7/2018 được tại ngoại cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Sum Hoàng Đăng K, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Phước; nơi thường trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; nơi tạm trú: Khu phố X, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sum Hoàng S, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1960; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ngày 20/7/2018 được tại ngoại cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 15/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B phối hợp với Công an phường T kiểm tra hành chính tại nhà ông Dương Thanh N thuộc địa chỉ: Đường N, khu phố X, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì Nguyễn Minh T đang có mặt tại đây. Qua kiểm tra phát hiện điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng gắn sim số 09659131X chứa nội dung tin nhắn cá cược bóng đá thắng thua bằng tiền với Sum Hoàng Đăng K, Nguyễn Ngọc V và Nguyễn Văn H. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B mời K, V, Hải đến làm việc và thu giữ của Nguyễn Minh T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6; thu giữ của Sum Hoàng Đăng K 01 điện thoại di động hiệu ITEL màu đen; thu giữ của Nguyễn Ngọc V 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300 màu đen và thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen.

Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T, Sum Hoàng Đăng K, Nguyễn Ngọc V, Nguyễn Văn H khai nhận: T quen biết K, V, H do cùng làm chung công ty, ở chung khu nhà trọ. T nhận cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền trong giải bóng đá Worldcup 2018, giải vô địch quốc gia Đan Mạch đang diễn ra. T thỏa thuận gửi kèo các trận đấu bóng đá cho K, V, H để cá độ thắng thua bằng tiền với nhau cụ thể như sau:

1. Trận đấu bóng đá giải vô địch quốc gia Đan Mạch giữa đội ODENSE BK gặp đội VENDRYRREL. T nhắn tin gửi kèo với nội dung “ODENSE. 1/2 d75. Tx 1.1/4L” nghĩa là ODSENSE là đội mạnh chấp đội VENDRYRREL ½ bàn thắng. Nếu chọn ODSENSE thắng 75% số tiền đặt cược, nếu chọn đội VENDRYRREL thắng 100%. Đến 21 giờ 43 phút, K đồng ý chọn đội ODENSE BK đặt cược với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng. Kết quả hiệp 2 đội ODENSE BK thua VENDRYRREL với tỷ số 2 - 3 nên K thua. Như vậy, số tiền dùng để đánh bạc trong trận này của Nguyễn Minh T là 10.000.000 (mười triệu) đồng, của Sum Hoàng Đăng K là 5.000.000 (năm triệu) đồng.

2. Trận đấu Worldcup 2018 giữa đội Pháp và đội Croatia diễn ra vào lúc 22 giờ ngày 15/7/2018. Trước khi trận đấu diễn ra, Nguyễn Minh T nhắn tin gửi kèo cho Sum Hoàng Đăng K, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc V với nội dung “Pháp 1/2 d80, Tx 2 x80, H1 1/4 d70 TX 3/4 X80” thì K, V, Hải đồng ý cá cược như sau: Lúc 21 giờ 52 phút cùng ngày, K nhắn tin chọn đội Pháp thắng với số tiền đặt cược là 5.000.000 (năm triệu) đồng; lúc 20 giờ 24 phút cùng ngày, V nhắn tin chọn đội Pháp thắng với số tiền đặt cược 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng, chọn xỉu với số tiền đặt cược 500.000 (năm trăm nghìn) đồng; lúc 20 giờ 24 phút cùng ngày, H nhắn tin chọn đội Pháp thắng với số tiền đặt cược 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Do trận đấu chưa diễn ra nên số tiền dùng để đánh bạc trong trận đấu này của Nguyễn Minh T là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng, Sum Hoàng Đăng K là 5.000.000 (năm triệu) đồng, Nguyễn Ngọc V là 3.000.000 (ba triệu) đồng, Nguyễn Văn H là 4.000.000 (bốn triệu) đồng.

Qua kiểm tra điện thoại của Nguyễn Ngọc V phát hiện ngày 14/7/2018, Nguyễn Minh T gửi kèo cá cược trận đội tuyển Anh và đội tuyển Bỉ diễn ra vào lúc 21 giờ ngày 14/7/2018 với tỷ lệ kèo hiệp 2 tài xỉu là “1.3/4 x 80” nghĩa là tổng số bàn thắng hiệp 2 lớn hơn hoặc bằng 02 bàn thắng là tài, dưới 02 bàn thắng là xỉu, chọn xỉu thắng 80% số tiền đặt cược, chọn tài thắng 90% số tiền đặt cược. V chọn xỉu hiệp 2 với số tiền đặt cược là 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Kết quả trận đấu với tỷ số hiệp 2 giữa Anh và Bỉ là 0 - 1 nên V thắng 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng chưa giao tiền thắng thua. Số tiền dùng để đánh bạc trong trận đấu này của Nguyễn Minh T là 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng, của Nguyễn Ngọc V là 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng.

Ngày 15/7/2018, Nguyễn Minh T còn cá độ trận giữa đội Pháp và đội Croatia với người tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0129.30708Y với số tiền đặt cược là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Ngày 15/8/2018, Sum Hoàng Đăng K còn cá độ với đối tượng N (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0123.92959Z đặt cược trận giữa đội tuyển Pháp và đội tuyển Croatia với số tiền đặt cược là 6.000.000 (sáu triệu) đồng.

Đối với Đ, N (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B đang điều tra, xử lý.

Ngày 29/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B xử lý hành chính phạt tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi đánh bạc đối với Nguyễn Ngọc V và Nguyễn Văn H.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã B đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T và Sum Hoàng Đăng K phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ngày 20/7/2018.

Xử phạt bị cáo Sum Hoàng Đăng K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ngày 20/7/2018.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/11/2018, các bị cáo Nguyễn Minh T, Sum Hoàng Đăng K có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo, tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo T cung cấp thêm tình tiết bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Minh C là người có công với cách mạng, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với tình tiết các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là chưa đúng quy định của pháp luật, vì các bị cáo phạm tội nhiều lần. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo T mức hình phạt từ 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng đến 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng, bị cáo K từ 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng đến 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo.

Bị cáo K nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, tạo điều kiện cho bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của các bị cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 15/7/2018, tại nhà của ông Dương Thanh N thuộc khu phố X, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Minh T đã có hành vi cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền 02 trận đấu: Trận đấu bóng đá giải vô địch quốc gia Đan Mạch giữa đội ODENSE BK và đội VENDRYRREL, T cá độ với Sum Hoàng Đăng K. Số tiền dùng để đánh bạc trong trận đấu này của Nguyễn Minh T là 10.000.000 (mười triệu) đồng, Sum Hoàng Đăng K là 5.000.000 (năm triệu) đồng. Trận đấu Worldcup 2018 giữa đội Pháp và đội Croatia, T cá độ với Sum Hoàng Đăng K, Nguyễn Ngọc V, Nguyễn Văn H. Số tiền dùng để đánh bạc trong trận đấu này của Nguyễn Minh T là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng, Sum Hoàng Đăng K là 5.000.000 (năm triệu) đồng, Nguyễn Ngọc V là 3.000.000 (ba triệu) đồng, Nguyễn Văn H là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Tổng số tiền bị cáo T cá độ bóng đá là 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng và bị cáo K là 10.000.000 (mười triệu) đồng.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc với hình thức cá độ bóng đá sát phạt lẫn nhau thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo vệ tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4]. Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo T cung cấp thêm tình tiết bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Minh C là người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này đối với các bị cáo là chưa đúng quy định của pháp luật vì các bị cáo phạm tội nhiều lần.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo K sử dụng số tiền đánh bạc không lớn và chỉ có vai trò là người tham gia đánh bạc, bị cáo có nhân thân tốt thể hiện ở việc bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là nặng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo K, chuyển hình phạt tù thành hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo K. Do không áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo K nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo đối với bị cáo K.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Tuy nhiên, bị cáo T đánh bạc 02 lần với số tiền lớn, đồng thời bị cáo có vai trò là người khởi xướng, rủ rê những người khác tham gia cá độ bóng đá và trực tiếp nhận kèo và thỏa thuận với những người đặt kèo cá độ bóng đá. Do đó, bị cáo T không đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời, việc bị cáo không chấp hành hình phạt tù sẽ gây ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương, đặc biệt là tội phạm đánh bạc đang gia tăng tại các khu dân cư trên địa bàn thị xã B nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung. Như vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hình phạt tù đối với bị cáo T là phù hợp, kháng cáo của bị cáo T về việc xin được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo K là phù hợp, đối với đề nghị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo T là chưa phù hợp.

[5]. Về xử lý vật chứng: Vào ngày 15/7/2018, bị cáo T sử dụng số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng để đánh bạc, bị cáo K sử dụng số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để đánh bạc và ông Nguyễn Ngọc V sử dụng số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng, ông Nguyễn Văn H sử dụng số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng để đánh bạc. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc các bị cáo, ông Nguyễn Ngọc V và ông Nguyễn Văn H nộp lại số tiền đánh bạc là không đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, cần buộc các bị cáo, ông Nguyễn Ngọc V và ông Nguyễn Văn H nộp lại số tiền nêu trên để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[6]. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Do Tòa án cấp sơ thẩm sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo K nên bị cáo K không phải chịu,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh T và Sum Hoàng Đăng K về việc xin hưởng án treo. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã B đối với bị cáo T. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã B về hình phạt đối với bị cáo K.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ngày 20/7/2018.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Sum Hoàng Đăng K 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T nộp lại số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng, bị cáo Sum Hoàng Đăng K nộp lại số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, ông Nguyễn Ngọc V nộp lại số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng và ông Nguyễn Văn H nộp lại số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 98; khoản 1 và khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, bị cáo Sum Hoàng Đăng K không phải nộp.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí, về xử lý vật chứng không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


47
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về