Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 40/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXX ngày 10 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị H, sinh năm: 1997; địa chỉ: Ấp Khởi Trung, xã cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Phú T, sinh năm: 1996; địa chỉ: Ấp Khởi Trung, xã cầu Khỏi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, váng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 09 tháng 4 năm 2019, quá trình t tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị H trình bày:

Chị và anh T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Chị và anh T sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T đi làm không lo cho gia đình, cờ bạc, mê chơi. Vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Chị và gia đình đã cố gắng khuyên anh T nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi. Chị đưa con về mẹ một sống và ly thân từ tháng 02-2019 cho đến nay. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung tên là Phạm Minh A, sinh ngày: 23-6-2018. Hiện con chung đang sống cùng với chị. Ly hôn chị xin nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T được quyền thăm con, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh T đã được Tòa án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trình bày:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự; Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn vắng mặt không có lý do Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Anh T đã được Tòa án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt anh T theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị H xác định tự nguyện sống chung với anh T từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã cầu Khởi. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[3] Xét về mâu thuẫn vợ chồng: Chị H và anh T sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T mê chơi, không có trách nhiệm với gia đình. Chị và gia đình đã khuyên anh T nhiều lần nhưng không thay đổi. Chị đã đưa con về nhà mẹ một sống và ly thân với anh T từ tháng 02-2019 cho đến nay. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn. Anh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và mời lên Tòa án làm việc nhiều lần nhưng anh T không lên để hàn gắn vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng chị H, anh T không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ vợ chồng. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh T.

[4] Về con chung: Chị H xác định có 01 con chung là Phạm Minh A, sinh ngày: 23-6-2018. Hiện con chung đang sống cùng với chị. Ly hôn chị xin nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T không đến Tòa án làm việc để có ý kiến về con chung. Con chung hiện nay dưới 36 tháng tuổi nên giao cho chị H nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử giao con chung cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu có ý kiến: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T; về con chung: Giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí dân sự sơ thẩm chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị H là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Võ Thị H với anh Phạm Phú T. Chị Võ Thị H được ly hôn với anh Phạm Phú T.

2. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Phạm Minh A, sinh ngày: 23-6-2018. Giao con chung cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Võ Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí sơ thẩm dân sự nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí khởi kiện chị H đã nộp theo biên lai thu số 0011614 ngày 12-4-2019 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp xong án phí.

5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:40/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về