Bản án 40/2017/HSST ngày 15/11/2017 về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 40/2017/HSST NGÀY 15/11/2017 VỀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC VÀ ĐÁNH BẠC 

Ngày 15 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở cũ của Tòa án nhân dân huyện K, đặt tại phố P, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình, xét xử lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2017/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên Trần Văn L, sinh năm 1980.

Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Tôn giáo: Thiên chúa giáo;

Bố đẻ: Trần Văn T, sinh năm 1954; Mẹ đẻ: Hoàng Thị L, sinh năm 1956; Vợ Đào Thị V, sinh năm 1985. Đều trú tại xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/01/2017 đến ngày 16/01/2017 và từ ngày 07/8/2017 đến ngày 09/8/2017, được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện K - Tỉnh Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do có quan hệ quen biết, khoảng 23 giờ ngày 13/01/2017 Đinh Văn D, Nguyễn Ngọc H đến chơi ở nhà Đinh Văn P, trong quá trình ngồi uống nước D rủ P và Huy đánh bạc bằng hình thức đánh “ba cây” được thua bằng tiền, P, H đồng ý. Do không có tiền nên D hỏi và mượn được của P 2.000.000đ, sau đó D lấy bộ bài tú lơ khơ có 36 quân (từ A đến 9) để ở trên bàn rồi cả ba người ngồi xuống chiếu đã trải sẵn tại phòng khách nhà P, thống nhất với nhau đặt trống cửa 50.000đ, đặt cao nhất tùy thuộc vào người cầm chương nhận và bắt đầu đánh bài. Khoảng 00 giờ ngày 14/01/2017 Trần Văn L ngồi uống nước tại quán nhà P thấy vậy xin vào tham gia chơi cùng. Đến 00 giờ 30 phút cùng ngày Trần Văn C, Nguyễn Văn K, Đào Mạnh D1 và Vũ Văn H1 cùng nhau đi xe mô tô đến quán nhà P uống nước. Khi thấy trong nhà P đang có người đánh bạc nên cũng xin vào tham gia. Do không có tiền nên C đã hỏi vay P 9.000.000đ và cầm cố chiếc xe mô tô BKS 35K1 - 162.07. Khi có tiền C cho K, D1, H1 mỗi người vay 1.000.000đ, sau đó C, K, D1, H1 tham gia đánh bạc cùng với P, D, H, L. Quá trình đánh bạc, H1 thấy C hết tiền nên trả lại tiền cho C và không chơi nữa. Đến khoảng 2 giờ 30 phút ngày 14/01/2017 thì H1 ra về, sau đó P, C, K, D1 thua hết tiền nên nghỉ chơi và ngồi tại chiếu xem D, H, L đánh bạc. Đến 2 giờ 45 phút ngày 14/01/2017 thì bị Công an huyện K bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: số tiền 14.650.000đ; 36 quân tú lơ khơ (từ A đến 9); 01 chiếc chiếu nhựa cũ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 35K1- 162.07 và thu trong người Nguyễn Ngọc H số tiền 520.000đ (xác định H sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc); thu giữ 09 máy điện thoại di động các loại đã qua sử dụng.

Bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 16/10/2017 VKSND huyện K đã truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS.

Tại phiên toà đại diện VKSND huyện K, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “ Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, P khoản 1, 2 Điều 46 BLHS

Xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 10-12 triệu đồng;

Áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý vật chứng đã thu giữ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Trong các lời khai trước đây cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn L hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đồng bọn như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo khai, tối ngày 13/01/2017 bị cáo đi cùng bạn là Trần Xuân Hùng đi đến nhà anh Đinh Văn P ở xóm T, xã V, huyện K ngồi chơi uống nước, quá trình uống nước ở bên ngoài quán bị cáo thấy trong gian phòng khách nhà anh P có người đang đánh bạc, thấy vậy bị cáo vào xem và xin được chơi cùng, được những người đang chơi bạc đồng ý, bị cáo đã cùng anh P chủ nhà, anh Đinh Văn D và anh Nguyễn Ngọc H cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây. Bị cáo và những người trên chơi được một lúc, đến khoảng 0 giờ 00 phút ngày 14/01/2017 thì có các anh Trần Văn C, Nguyễn Văn K, Vũ Văn H1 và Đỗ Mạnh D1 đều ở xã Đ, huyện K đến uống nước, thấy mọi người đang chơi bạc cũng xin vào tham gia. Bị cáo và những người trên, tổng cộng 8 người ngồi đánh bạc liên tục đến 02 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K phát hiện bắt quả tang, thu trên chiếu bạc số tiền 14.650.000đ là tiền các bị cáo đang dùng đánh bạc và thu trên người anh H 520.000đ là tiền sẽ dùng vào việc đánh bạc. Ngày 16/01/2017 bị cáo bị Công an huyện K khởi tố bị can, được cho tại ngoại, do khiếp sợ nên bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, bị cơ quan công an ra lệnh truy nã. Trong quá trình lẩn trốn bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm pháp của mình nên đến ngày 07/8/2017 bị cáo tự nguyện trở về đến công an huyện K đầu thú.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản phạm tội quả tang, thống kê vật chứng thu giữ...

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận với hành vi cùng những người khác đánh bạc được thua bằng tiền có giá trị 15.170.000đ, bị cáo Trần Văn L đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, là tệ nạn xã hội cần phải loại trừ, vì vậy cần phải xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần giữ vững ổn định trật tự xã hội trên địa bàn.

Khi lượng hình cũng cần xem xét, cùng tham gia phạm tội với bị cáo trong vụ án còn có một số đồng phạm khác, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, không có chủ định từ trước, bị cáo không phải là người khởi xướng việc đánh bạc mà chỉ tình cờ thấy những người khác đang chơi bạc vì ham vui nên xin cùng tham gia; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS; Quá trình giải quyết vụ án bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ thái độ ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm P khoản 1 Điều 46 BLHS; sau khi phạm tội do sợ hãi bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, nhưng sau đó đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình tự trở về cơ quan công an đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.

Xét nhân thân, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như đã phân tích ở trên, HĐXX xét thấy chỉ cần xử phạt bị cáo bằng hình thức phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục và vì vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung về phạt tiền mà nên thu hút vào hình phạt chính.

Trong vụ án này những đồng phạm cùng tham gia phạm tội với bị cáo đã được xử lý tại bản án số 18/2017/HSST ngày 01/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, trong đó xử phạt Trần Văn C 05 tháng tù, phạt bổ sung 4.000.000đ; xử phạt Đinh Văn P 13.000.000đ; Đinh Văn D 12.000.000đ; Nguyễn Ngọc H 11.000.000đ; Đào Mạnh D1 10.000.000đ; Vũ Văn H1 10.000.000đ và Nguyễn Văn K 5.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: số tiền 15.170.000đ bị cáo và các đồng phạm dùng để đánh bạc; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 35K1-162.07; 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân; 01 chiếc chiếu nhựa cũ và 07 chiếc điện thoại di động các loại đã được giải quyết tại bản án số 18/2017/HSST ngày 01/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện K. Số vật chứng còn lại là 02 chiếc điện thoại di động của Trần Văn L hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, đây là tài sản riêng của bị cáo L không liên quan đến vụ án nay cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46 BLHS Xử phạt bị cáo Trần Văn L số tiền 12.000.000đ;

Trả lại cho bị cáo Trần Văn L 02 điện thoại di động gồm 01 điện thoại Sam sung A7 màu đen và 01 điện thoại Sony Xperia màu vàng, nhưng cần tiếp tục quản lý các điện thoại nêu trên để đảm bảo thi hành án. (Chi tiết vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện K với Chi cục Thi hành án dân sự huyện K ngày 16/10/2017).

Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, buộc bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không nộp số tiền phạt nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo là người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


256
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về