Bản án 40/2015/HNGĐ-PT ngày 04/12/2015 về hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 40/2015/HNGĐ-PT NGÀY 04/12/2015 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 04 tháng 12 năm 2015 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai phúc thẩm vụ án “Hôn nhân và gia đình” thụ lý số 03/2015/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2015 do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2015/HNGĐ-ST ngày 22/04/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1286/2015/QĐ-PT ngày 16/01/2015 giữa các đương sự:

 * Nguyên đơn: Chị Lương Thị Huệ, sinh năm 1959.

Hộ chiếu số B4599106 cấp ngày 11/11/2010 tai Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an.

Địa chỉ tại CH Séc: 268 Husova, Beroun, 26601, Cộng hòa Séc.

Về Việt Nam tạm trú tại: 68 Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Lương Chi Mai, sinh năm 1955; địa chỉ: Căn hộ số 8 nhà 4 tầng 25 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Dương Quang Hà, Văn phòng luật sư Việt Triều thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Anh Ngô Duy Minh, sinh năm 1955.

Hộ chiếu số N1245579 do Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Séc cấp ngày 27/8/2008.

Hộ khẩu thường trú: Số 142, tổ 44 phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

 Theo Đơn xin ly hôn ngày 18/5/2014 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn  chị Lương Thị Huệ trình bày:

Chị Lương Thị Huệ và anh Ngô Duy Minh kết hôn ngày 27/3/1986. Năm 1991, anh Minh đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Séc. Đến năm 1994, chị Huệ và con trai là cháu Ngô Trung Hải sang đoàn tụ cùng anh Minh. Năm 1997 anh Minh và chị Huệ đón cháu Ngô Thu Hường sang đoàn tụ cùng gia đình. Cuộc sống gia đình hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh Minh có quan hệ với người phụ nữ khác, ngược đãi vợ con, thường xuyên xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị Huệ, không quan tâm đến cuộc sống của các con. Anh Minh đã tự ý bán cửa hàng và ki ốt tại Cộng hòa Séc lấy tiền để chi tiêu cho bản thân, chơi bời dẫn đến nợ nần chồng chất phải bán nhà và cửa hàng ở Cộng hòa Séc làm ba mẹ con không còn nhà và cửa hàng để kiếm sống, cuộc sống vô cùng vất vả, chị Huệ bị mất việc làm, phải đi làm thuê để nuôi các con. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2009. Năm 2011, chị và hai con phải thuê nhà để ở và tự kiếm sống ở Cộng hòa Séc. Anh Minh không hề có trách nhiệm gì với ba mẹ con. Mâu thuẫn đỉnh điểm vào năm 2013, anh Minh về Việt Nam định chiếm đoạt hai ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng, chiếm hết số tiền thuê nhà ở Việt Nam. Chị xác định không còn tình cảm với anh Minh nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Minh.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Ngô Thu Hường, sinh ngày 24/01/1987 và cháu Ngô Trung Hải, sinh ngày 22/9/1989. Các cháu đều đã đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung: Trong thời gian hôn nhân, vợ chồng tạo dựng được khối tài sản chung gồm:

- Nhà đất tại 142 đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội diện tích 14,5m2, xây 3 tầng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân cấp ngày 12/12/2005 số AC741614 đứng tên Ngô Duy Minh và Lương Thị Huệ. Nguồn gốc nhà đất này là của vợ chồng mua năm 1988. Khi mua là nhà cấp 4, sau đó vợ chồng đã sửa chữa, cơi nới thành nhà 3 tầng như hiện nay. Vợ chồng anh chị cho Công ty TNHH đầu tư và nội thất Tiến Đạt thuê từ 27/01/2012 đến 27/02/2015. Giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu nhà đất này do anh Minh giữ toàn bộ.

- Nhà đất tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội diện tích khoảng 25m2 xây 3 tầng. Nguồn gốc là của vợ chồng mua của vợ chồng anh Thắng chị Hương năm 1997. Hiện nay anh Minh đang quản lý, sử dụng ngôi nhà này.

- Ngoài ra, vợ chồng chị còn có tài sản là nhà và ki ốt ở Cộng hòa Séc nhưng đã bán nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Khi ly hôn, chị có nguyện vọng chia tài sản bằng hiện vật và xin nhận nhà đất tại 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội;  Anh Minh nhận nhà đất tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, chị sẽ thanh toán chênh lệch cho anh Minh nếu có.

Về số tiền thuê nhà: Từ khi về Việt Nam năm 2013, anh Minh đã độc chiếm cả hai khối tài sản chung vợ chồng và tiền cho thuê hai ngôi nhà này cũng không chia cho chị. Chị đề nghị anh Minh chia đôi số tiền thuê nhà, cụ thể nhà ở 142 Nguyễn Trãi số tiền 198 triệu đồng, nhà ở số 2 ngõ 25 Cự Lộc số tiền 99 triệu đồng. Tổng là 297 triệu đồng.

Về động sản: hai vợ chồng tự phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Ngô Duy Minh trình bày:

Thời điểm kết hôn và quá trình chung sống vợ chồng như chị Huệ trình bày là đúng. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ lâu, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị Huệ xin ly hôn anh nhất trí.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Ngô Thu Hường, sinh ngày 24/01/1987 và cháu Ngô Trung Hải, sinh ngày 22/9/1989. Các cháu đều đã đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản: Có 3 khối tài sản gồm:

- Nhà đất tại số 142 đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội diện tích 14,5m2, xây 3 tầng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân cấp ngày 12/12/2005 số AC741614 đứng tên Ngô Duy Minh và Lương Thị Huệ. Nguồn gốc nhà đất này là do anh được mẹ đẻ cho tiền mua căn phòng 17m2 tại 56 Hàng Buồm. Năm 1988, anh đổi căn phòng này lấy căn nhà cấp 4 rộng 12m2 của bà Nghị ở địa chỉ số 60 đường Nguyễn Trãi, Thượng Đình, Đống Đa, Hà Nội (nay là số 142 đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội). Năm 1989, anh cơi nới lên cao, giữ nguyên diện tích mặt bằng và giữ nguyên hiện trạng cho đến nay. Anh Minh xác định đây là tài sản riêng của anh, không phải tài sản chung vợ chồng. Do khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh đã kết hôn với chị Huệ nên mới cho chị Huệ đứng tên cùng.

- Nhà đất tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội diện tích khoảng 25m2 xây 3 tầng. Nguồn gốc là của vợ chồng anh Minh mua của vợ chồng anh Thắng chị Hương năm 1997. Hiện nay anh đang quản lý, sử dụng ngôi nhà này và có cho thuê tầng 1 của ngôi nhà. Anh Minh  nhất trí đây là tài sản chung vợ chồng, đồng ý chia đôi để chị Huệ và các con cùng chung sống nếu chị Huệ không còn nơi ở nào khác.

- Ngoài ra, vợ chồng còn có tài sản là nhà và ki ốt ở Cộng hòa Séc nhưng đã bán lấy tiền, vợ chồng đã chia tiền cho nhau xong, anh Minh cũng nhất trí không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh không đồng ý với yêu cầu của chị Huệ đòi anh số tiền thuê nhà của ngôi nhà 142 đường Nguyễn trãi nêu trên vì đó là tài sản riêng của anh, hiện anh đang quản lý, sử dụng.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 09/2015/HNGĐ-ST ngày 22 và 23/4/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Căn cứ Điều 53, 54, 55, 56, 57, 59, 122, 123 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 131, 243, 245 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 8, 9 Điều 27 Pháp lệnh án lệ phí Tòa án. Xử:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lương Thị Huệ và anh Ngô Duy Minh. Chị Lương Thị Huệ và anh Ngô Duy Minh được ly hôn.

2. Về con chung: Chị Huệ, anh Minh có 02 con chung là cháu Ngô Thu Hường, sinh ngày 24/01/1987 và cháu Ngô Trung Hải, sinh ngày 22/9/1989. Các con chung đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.

3. Tài sản chung vợ chồng: Xác định vợ chồng có 02 khối tài sản chung vợ chồng là nhà đất tại số 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội và nhà đất tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Tổng giá trị tài sản chung nhà đất là 1.200.000.000 đồng. Chia anh Minh được hưởng 700.000.000 đồng, chị Huệ được hưởng 500.000.000 đồng.

Chia cho chị Lương Thị Huệ sở hữu, sử dụng nhà đất tại số 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội, giá trị 600.000.000 đồng.

Chia cho anh Ngô Duy Minh sở hữu, sử dụng nhà đất tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, giá trị 600.000.000 đồng.

Chị Huệ phải thanh toán chênh lệch tài sản nhà đất cho anh Minh 100.000.000 đồng.

Xác nhận số tiền thu được từ việc thuê hai căn nhà từ tháng 02/2013 đến nay là 297.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự về số tiền anh Minh đầu tư sửa chữa nhà tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc là 50.000.000 đồng. Số tiền thuê nhà còn lại 247.000.000 đồng chia chị Huệ và anh Minh mỗi người được hưởng 123.500.000 đồng. Đối trừ nghĩa vụ anh Minh còn phải thanh toán cho chị Huệ 23.500.000 đồng.

Về tài sản tại Cộng hòa Séc: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không tranh chấp. Nếu sau này có yêu cầu chia tài sản thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

4. Về án phí: Chị Huệ phải chịu 28.940.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và 200.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 36.200.000 đồng theo biên lai số 0009678 ngày 10/6/2014 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị Huệ được hoàn lại 7.060.000 đồng.

Anh Minh phải chịu 36.705.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bên có quyền đăng ký quyền sở hữu, sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28 tháng 4 năm 2015, anh Ngô Duy Minh có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm nêu trên về phần tài sản và tố tụng, cụ thể các nội dung:

- Nhà đất tại 142 đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội là tài sản riêng của anh Minh. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tài sản chung vợ chồng là không đúng.

- Tiền cho thuê nhà ở 142 đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội và số 02 ngõ 25 Cự Lộc Tòa án cấp sơ thẩm phân chia chưa hợp lý. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng anh và chị Huệ thỏa thuận không tranh chấp số tiền thuê nhà nhận được trước ngày 27/02/2013 là không đúng, vì thực tế năm 2013 chị Huệ nhận tiền thuê nhà 142 Nguyễn Trãi năm đầu là 96.000.000 đồng, cần đưa số tiền này vào tài sản chung vợ chồng để chia.

- Anh là Thương binh nên phải được miễn, giảm án phí; Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh phải chịu án phí là không đúng;

 Đề nghị phải đưa em gái của anh là chị Ngô Thị Thanh Tâm tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

Ngày 07/5/2015, chị Lương Thị Huệ cũng có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm nêu trên với nội dung: Tòa ấn cấp sơ thẩm chia tài sản cho anh Minh phần nhiều hơn đối với căn nhà 142 Nguyễn Trãi là không công bằng; Đề nghị Tòa án chia đôi tài sản chung của anh chị và giảm án phí cho chị.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày quan điểm tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị Huệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục: Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng các thủ tục tại phiên tòa và các thủ tục trước phiên tòa theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung:

- Nhà đất tại 142 đường Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội được Tòa án cấp sơ thẩm xác định là tài sản chung của hai vợ chồng và được chia theo công sức đóng góp của các bên đương sự. Việc xác định và phân chia tài sản như vậy của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ đúng pháp luật. Do đó, kháng cáo của anh Minh cho rằng nhà đất trên là tài sản riêng của anh; kháng cáo của chị Huệ yêu cầu được hưởng một nửa giá trị đều không có căn cứ để chấp nhận.

- Về tiền thuê nhà: Tại phiên tòa các đương sự đã thống nhất đưa số tiền 96.000.000 đồng mà chị Huệ nhận vào năm 2013 vào khối tài sản chung để chia mỗi bên ½.  Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của anh Minh về phần phân chia tiền thuê nhà.

- Về án phí: Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009 của UBTVQH12 và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án số 02/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì anh Minh và Chị Huệ đều không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của anh Minh và Chị Huệ về nội dung này.

- Về nội dung kháng cáo của anh Minh đề nghị đưa chị Ngô Thị Thanh Tâm vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan cũng không có cơ sở chấp nhận vì nhà đất tranh chấp Tòa án cấp sơ thẩm xác định là tài sản chung vợ chồng anh Minh, chị Huệ là có căn cứ nên chị Tâm không có liên quan đến vụ án này.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của chị Huệ, chấp nhận một phần kháng cáo của anh Minh, sửa một phần bản án sơ thẩm nêu trên về phần giải quyết tiền thuê nhà.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, luật sư và Kiểm sát viên;

XÉT THẤY

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bên đương sự không kháng cáo về phần quan hệ hôn nhân và con chung, mà chỉ kháng cáo về phần tài sản, án phí và tố tụng.

 Về tài sản:

Nhà đất tại số 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội, diện tích 14,5m2, xây 3 tầng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC741614 do Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân cấp ngày 12/12/2005 đứng tên Ngô Duy Minh và Lương Thị Huệ. Anh chị thống nhất định giá nhà đất này trị giá 600.000.000 đồng. Chị Huệ kháng cáo cho rằng nguồn gốc nhà đất này là do vợ chồng mua năm 1988 và đề nghị chia đôi. Anh Minh kháng cáo cho rằng đây là tài sản riêng của anh, nguồn gốc nhà đất này là do mẹ anh Minh cho anh Minh tiền mua căn phòng 17m2 tại 56 Hàng Buồm, sau đó, năm 1988, anh Minh đổi căn phòng này lấy căn nhà cấp 4 rộng 12m2 của bà Nghị ở địa chỉ số 60 đường Nguyễn Trãi, Thượng Đình, Đống Đa, Hà Nội (này là số 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội).

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tài liệu tại cơ quan quản lý nhà đất và xác định: Tài sản này hình thành có nguồn gốc tài sản của gia đình anh Minh. Tuy nhiên, tài sản này đã chuyển dịch, anh Minh đã đưa vào sử dụng chung, sáp nhập vào cùng khối tài sản, cùng chị Huệ xây dựng nên nhà 3 tầng để ở, cho thuê, cùng khai thác, sử dụng và cùng đứng tên đăng ký đồng sở hữu về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận từ năm 2005 đến nay đã 10 năm không có sự tranh chấp khiếu nại gì. Anh Minh nêu nhà dùng để làm thờ cúng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Về phía chị Huệ, tại phiên tòa phúc thẩm luật sư cho rằng nhà đất nêu trên là do anh Minh và chị Huệ mua năm 1988, khi mua chị Huệ có đóng góp toàn bộ tài sản hồi môn của chị gồm 01 nhẫn vàng 2 chỉ, 01 dây chuyền 05 chỉ và toàn bộ số tiền mừng cưới của hai vợ chồng, nhưng không được anh Minh thừa nhận và cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Vì vậy không có cơ sở xác định công sức đóng góp tạo lập nhà đất nêu trên của hai bên là ngang nhau.

 Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà đất nêu trên là tài sản chung của anh Minh, chị Huệ và xác định anh Minh có công sức nhiều hơn nên chia cho anh Minh hưởng 400.000.000 đồng, chị Huệ hưởng 200.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 46; Khoản b Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Về nhà đất tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội: Hiện anh Minh đang ở, anh Minh và chị Huệ đều thống nhất xác định đây là tài sản chung của hai vợ chồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà đất này là tài sản chung vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân được chia đôi, mỗi người hưởng ½ giá trị là 300.000.000 đồng. Chị Huệ và anh Minh không kháng cáo đối với nhà đất này.

Cả hai nhà đất nêu trên là tài sản chung của anh Minh và chị Huệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của các bên để chia hiện vật cho anh Minh, chị Huệ, theo đó,  chia cho chị Huệ sở hữu, sử dụng nhà đất số 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, diện tích 14,5m2, trên có nhà 3 tầng, chia cho anh Minh sở hữu, sử dụng nhà đất tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, diện tích 25m2, trên có nhà 3 tầng. Chị Huệ phải thanh toán phần chênh lệch nhà ở với số tiền 100.000.000 đồng cho anh Minh. Việc phân chia nhà đất cho các bên đương sự của Tòa án cấp sơ thẩm là có cơ sở, phù hợp với Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản vợ chồng khi ly hôn.

Như vậy tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không đưa ra được chứng cứ nào khác so với cấp sơ thẩm để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh Minh yêu cầu xác định nhà đất số 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, Thanh Xuân là tài sản riêng của anh; kháng cáo của chị Huệ yêu cầu được hưởng ½ giá trị nhà đất nêu trên.

Về số tiền cho thuê nhà 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội: Anh Minh kháng cáo cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định anh và chị Huệ không tranh chấp số tiền thuê nhà nhận được từ tháng 02/2013 trở về trước là không đúng nên anh yêu cầu được chia số tiền này. Xét thấy, Chị Huệ là người đứng ra ký hợp đồng cho công ty TNHH đầu tư và nội thất Tiến Đạt thuê với thời hạn 03 năm, từ ngày 27/02/2012 đến ngày 27/02/2015. Năm đầu tiên chị Huệ nhận số tiền thuê nhà là 96.000.000 đồng; hai năm tiếp theo anh Minh nhận với số tiền là 198.000.000 đồng (năm 2014 nhận 108.000.000 đồng, năm 2015 nhận 90.000.000 đồng). Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, chị Huệ yêu cầu được chia đôi số tiền thuê nhà 198.000.000 đồng anh Minh nhận và đã được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Minh yêu cầu đưa cả số tiền 96.000.000 đồng mà chị Huệ nhận vào tài sản chung để phân chia cho mỗi bên 1/2. Yêu cầu này của anh Minh được phía chị Huệ chấp nhận nên xác định số tiền thuê nhà 294.000.000 đồng mà hai bên thu được trong 03 năm cần đưa vào khối tài sản chung để chia cho mỗi bên ½.

Về số tiền cho thuê cả hai ngôi nhà: Hai bên đương sự cũng thống nhất được số tiền thuê nhà ở số 2 ngõ 25, Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội từ ngày 15/9/2013 đến tháng 3/2015, do anh Minh thu là 99.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền thu được cả hai nhà là 393.000.000 đồng, trừ đi số tiền anh Minh đầu tư, sửa chữa, nâng cấp nhà số 2 ngõ 25, Cự Lộc là 50.000.000 đồng, nên số tiền còn lại để phân chia là 343.000.000 đồng. Anh Minh và chị Huệ mỗi người được hưởng ½ số tiền thuê nhà còn lại là 171.500.000 đồng. Chị Huệ đang giữ 96.000.000 đồng, anh Minh đang giữ 247.000.000 đồng nên anh Minh phải thanh toán lại cho chị Huệ 75.500.000 đồng.

Do đó, cần phải sửa án sơ thẩm về phần tài sản, cụ thể phần giải quyết về tiền thuê nhà nên nội dung kháng cáo về việc phân chia tiền thuê nhà của anh Minh có cơ sở chấp nhận.

Về nội dung kháng cáo của anh Minh cho rằng Tòa án cần phải đưa chị Ngô Thị Thanh Tâm vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng tài sản tranh chấp trong vụ án này là tài sản chung của anh Minh và chị Huệ, chị Tâm không có liên quan gì. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của anh Minh là có căn cứ. Do đó, không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh Minh.

Về án phí: Hai bên đương sự đều kháng cáo về án phí. Anh Minh cho rằng anh là thương binh, chị Huệ cho rằng hoàn cảnh khó khăn nên phải được miễn, hoặc giảm án phí. Về nội dung này, căn cứ vào quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 13/6/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng cả anh Minh và chị Huệ đều không phải là đối tượng được xem xét để được miễn, giảm án phí. Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Minh, chị Huệ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là đúng. Nên nội dung kháng cáo này của hai bên đương sự đều không được chấp nhận. 

Do việc phân chia tiền thuê nhà phải điều chỉnh lại nên phần án phí phải thay đổi như sau: Chị Huệ phải chịu 30.860.000 (ba mươi triệu tám trăm sáu mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần tài sản được chia, tổng cộng là 671.500.000 (sáu trăm bảy mốt triệu năm trăm nghìn) đồng và 200.000 đồng án phí phúc thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 36.200.000 đồng theo biên lai số AP/2010/0009678 ngày 10/6/2014 và 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số AB/2014/04547 ngày 11/5/2015 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị Huệ được hoàn lại 5.140.000 đồng (năm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

Anh Minh phải chịu 38.145.000 đồng (ba mươi tám triệu một trăm bốn lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, tương ứng với phần tài sản được chia, tổng cộng là 871.500.000 (tám trăm bảy mốt triệu năm trăm nghìn) đồng. Anh Minh không phải chịu án phí phúc thẩm; anh Minh đã nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số AB/2014/04541 ngày 11/5/2005 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội nên số tiền án phí anh Minh còn phải nộp là 37.945.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 2 Điều 275; khoản 1 Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 131 và Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự;
 
Điều 46, 59, 122, 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 8, khoản 9 Điều 27; Điều 30 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa ánNghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 13/6/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí.

Không chấp nhận kháng cáo của chị Lương Thị Huệ, chấp nhận một phần kháng cáo của anh Ngô Duy Minh, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 09/2015/HNGĐ-ST ngày 23/4/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về tài sản như sau:

1. Tài sản chung vợ chồng: Xác định vợ chồng có hai khối tài sản chung vợ chồng là nhà đất tại số 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội và nhà đất tại số 2 ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Tổng giá trị tài sản chung nhà đất là 1.200.000.000 đồng. Chia anh Minh được hưởng 700.000.000 đồng, chị Huệ được hưởng 500.000.000 đồng.

Chia cho chị Lương Thị Huệ sở hữu, sử dụng nhà đất tại số 142 Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội, giá trị 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).

Chia cho anh Ngô Duy Minh sở hữu, sử dụng nhà đất tại số 2, ngõ 25 Cự Lộc, phường Nhân chính, quận Thanh, Hà Nội, giá trị 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).

Chị Huệ phải thanh toán chênh lệch tài sản nhà đất cho anh Minh 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Xác nhận số tiền thu được từ việc cho thuê hai căn nhà từ tháng 02/2012 tới 27/02/2015 là 393.000.000 đồng. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về số tiền anh Minh đầu tư sửa chữa nhà số 2 ngõ 25 Cự Lộc là 50.000.000 đồng. Số tiền cho thuê nhà còn lại là: 343.000.000 đồng; Anh Minh và chị Huệ mỗi người được hưởng ½ số tiền thuê nhà còn lại là 171.500.000 đồng. Chị Huệ đang giữ 96.000.000 đồng, anh Minh đang giữ 247.000.000 đồng nên anh Minh phải thanh toán lại cho chị Huệ 75.500.000 đồng. Đối trừ nghĩa vụ chị Huệ còn phải thanh toán cho anh Minh 24.500.000 (hai bốn triệu năm trăm nghìn) đồng.

Về tài sản tại Cộng Hòa Séc: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không tranh chấp. Nếu sau này có yêu cầu chia tài sản thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

2. Về án phí:

Chị Huệ phải chịu 30.860.000 đồng (ba mươi triệu tám trăm sáu mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và 200.000 đồng án phí ly hôn phúc thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 36.200.000 đồng theo biên lai số AP/2010/0009678 ngày 10/6/2014 và 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số AB/2014/04547 ngày 11/5/2015 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, chị Huệ được hoàn lại 5.140.000 đồng (năm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

Anh Minh phải chịu 38.145.000 đồng (ba mươi tám triệu một trăm bốn lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Anh Minh không phải chịu án phí phúc thẩm; anh Minh đã nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số AB/2014/04541 ngày 11/5/2005 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội nên số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch anh Minh còn phải nộp là 37.945.000 (ba bảy triệu chín trăm bốn lăm nghìn) đồng.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bên có quyền đăng ký quyền sở hữu, sử dụng nhà đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Kể từ ngày người được thi hành án có yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tương đương với thời gian chưa thi hành.

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự được thực hiện theo điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Các quyết khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


172
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2015/HNGĐ-PT ngày 04/12/2015 về hôn nhân gia đình

Số hiệu:40/2015/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 04/12/2015
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về