Bản án 396/2020/DS-PT ngày 26/05/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 396/2020/DS-PT NGÀY 26/05/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 235/DSPT ngày 24 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 580/2019/DS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3489/2020/QĐPT-DS ngày 23/4/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ Địa chỉ: Số 130 đường P, Phường X, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Chí H, sinh năm 1974 (có mặt) (Văn bản ủy quyền số 236/QĐ-DAB-PC ngày 20 tháng 3 năm 2019) Bị Đơn:

1. Ông Mai Văn L, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 228 đường C, phường Y, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (Gọi tắt là Ngân hàng) có Ông Lâm Chí H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào ngày 17/5/2011, Ngân hàng TMCP Đ và Ông Mai Văn L có ký hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 05/TC125/2011, theo hợp đồng Ngân hàng đồng ý cấp hạn mức thấu chi là 950.000.000 (Chín trăm năm mươi triệu) đồng cho ông L, lãi suất thấu chi là 22.8%/năm, thời hạn thấu chi: 12 tháng (từ ngày 17/5/2011 đến ngày 17/5/2012), mục đích vay: tiêu dùng. Biện pháp bảo đảm là tín chấp.

Trong quá trình vay, do Ông Mai Văn L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên từ ngày 17/5/2012, ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 12/9/2019, ông L còn nợ các khoản sau:

- Vốn: 840.607.985 (Tám trăm bốn mươi triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm tám mươi lăm) đồng.

- Lãi quá hạn: 2.141.043.673 (Hai tỷ một trăm bốn mươi mốt triệu không trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm bảy mươi ba) đồng.

- Phí sử dụng dịch vụ: 350.000 (Ba trăm năm mươi nghìn) đồng.

Tổng cộng: 2.982.001.658 (Hai tỷ chín trăm tám mươi hai triệu không trăm lẻ một nghìn sáu trăm năm mươi tám) đồng.

Vì vậy, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông L trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 12/9/2019 là 2.982.001.658 (Hai tỷ chín trăm tám mươi hai triệu không trăm lẻ một nghìn sáu trăm năm mươi tám) đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 13/9/2019 đến ngày ông L thực trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất quá hạn được quy định theo hợp đồng dịch vụ thấu chi.

Bị đơn Ông Mai Văn L có ý kiến trình bày như sau: Ông L thống nhất với ý kiến trình bày của Ngân hàng về quá trình ký kết hợp đồng, nội dung hợp đồng, hạn mức thấu chi, quá trình thanh toán. Ông L xác nhận còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 840.607.985 (Tám trăm bốn mươi triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm tám mươi lăm) đồng. Nay trước yêu cầu của nguyên đơn, ông L yêu cầu được trả số nợ gốc mỗi tháng là 10.000.000 (Mười triệu) đồng, bắt đầu thực hiện từ tháng 11/2019, đồng thời khi cổ phiếu của Ngân hàng được giao dịch trở lại thì ông sẽ chuyển nhượng toàn bộ số cổ phiếu để trả nợ cho Ngân hàng. Sau khi trả nợ gốc, ông sẽ đề nghị Ngân hàng xem xét phần lãi và phí.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn xác định lại yêu cầu cụ thể là: Buộc Ông Mai Văn L thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 17/12/2019 là 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng, trong đó, dư nợ gốc là 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng, lãi quá hạn 2.208.355.612 (Hai tỷ hai trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng. Từ ngày 18/12/2019, ông L còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

- Bị đơn Ông Mai Văn L trình bày: Ông thống nhất với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về quá trình ký kết hợp đồng, thanh toán, số tiền vay, quá trình thanh toán của hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 05/TC125/2011 ngày 17/5/2011 giữa ông và Ngân hàng TMCP Đ. Ông xác định hiện nay ông còn nợ ngân hàng số tiền là 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng, trong đó, dư nợ gốc là 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng, lãi quá hạn 2.208.355.612 (Hai tỷ hai trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng, ông đồng ý thanh toán số tiền trên. Tuy nhiên do hiện nay ông đang gặp khó khăn trong vấn đề kinh doanh nên ông đề nghị Ngân hàng xem xét giảm lãi, đồng thời tạo điều kiện cho ông thanh toán theo phương thức sau: Mỗi tháng thanh toán 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng tiền gốc, sau khi thanh toán xong tiền gốc, ông sẽ tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Không đồng ý với phương án trả nợ mà bị đơn đưa ra, do ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu ông L thanh toán theo phương thức trên là phù hợp với chủ trương, chính sách và pháp luật về Ngân hàng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 580/2019/DSST ngày 17/12/2019 của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

- Buộc Ông Mai Văn L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số nợ theo Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 05/TC125/2011 ngày 17/5/2011, tạm tính đến ngày 17/12/2019 là 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng, trong đó, dư nợ gốc là 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng, lãi quá hạn 2.208.355.612 (Hai tỷ hai trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng.

- Thời hạn thi hành: Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Địa điểm thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Kể từ ngày 18/12/2019, Ông Mai Văn L còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận ghi trong Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 05/TC125/2011 ngày 17/5/2011 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Mai Văn L phải chịu án phí là 76.167.112 (Bảy mươi sáu triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai) đồng.

- Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 44.841.758 (Bốn mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi tám) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0012204 ngày 14/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T.

Ngoài ra bản án còn tuyên án quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 30 tháng 12 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận T kháng nghị số 01/QDKNPT – VKS_DS với nội dung: Trong phần nội dung Bản án, nguyên đơn yêu cầu số tiền phải trả là 2.982.001.658 (Hai tỷ chín trăm tám mươi hai triệu không trăm lẻ một nghìn sáu trăm năm mươi tám) đồng gồm nợ gốc và nợ lãi, nhưng tại phần tuyên án, quyết định buộc bị đơn phải trả số tiền 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng gồm nợ gốc và nợ lãi (chênh lệch 173.646.046 (Một trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi sáu triệu không trăm bốn mươi sáu) đồng) là có thiếu sót và chưa xem xét giải quyết toàn diện các yêu cầu của nguyên đơn tại đơn khởi kiện; về án phí, số tiền Ông Mai Văn L phải trả theo quyết định của Tòa án là 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng, do đó số tiền án phí của ông L phải chịu là 88.167.112 (Tám mươi tám triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai) đồng nhưng Tòa án tuyên buộc ông L chịu án phí sơ thẩm 76.167.112 (Bảy mươi sáu triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai đồng) là chưa đủ, gây thất thoát ngân sách cho Nhà nước. Vì vậy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận T kháng nghị để sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên khởi kiện, Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút một phần kháng nghị đối với phần kháng nghị về nội dung, giữ phần kháng nghị về án phí.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của chủ tọa, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự và về nội dung như sau:

+ Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các bên đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút một phần kháng nghị đối với phần kháng nghị về nội dung, giữ phần kháng nghị về án phí. Do quyết định của bản án sơ thẩm buộc Ông Mai Văn L phải trả 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng, do đó số tiền án phí của ông L phải chịu là 88.167.112 (Tám mươi tám triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai) đồng nhưng Tòa án tuyên buộc ông L chịu án phí sơ thẩm 76.167.112 (Bảy mươi sáu triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai) đồng là chưa đủ, gây thất thoát ngân sách cho Nhà nước. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về hình thức: Quyết định kháng nghị số 01 ngày 30/12/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát quận T làm đúng hình thức, trong hạn luật định nên được công nhận về mặt hình thức.

- Về nội dung:

Xét kháng nghị số 01 ngày 30/12/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát Quận T, Hội đồng xét xử XÉT THẤY

- Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ xác định lại yêu cầu cụ thể là buộc bị đơn Ông Mai Văn L thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 17/12/2019 là 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng, trong đó, dư nợ gốc là 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng, lãi quá hạn 2.208.355.612 (Hai tỷ hai trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ và yêu cầu của đương sự mà Tòa án đã quyết định chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng là đã xem xét giải quyết toàn diện các yêu cầu của nguyên đơn nên việc Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút một phần kháng nghị đối với phần kháng nghị về nội dung này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với nội dung kháng nghị về án phí, Hội đồng xét xử xét thấy quyết định của bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Ông Mai Văn L phải trả 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, số tiền án phí của ông L phải chịu là 88.167.112 (Tám mươi tám triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai) đồng và ông L không thuộc trường hợp được giảm án phí, nhưng Tòa án tuyên buộc ông L chịu án phí sơ thẩm 76.167.112 (Bảy mươi sáu triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai) đồng là chưa chính xác, cần phải sửa bản án về phần án phí theo hướng buộc ông L phải chịu là 88.167.112 (Tám mươi tám triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Vì vậy, chấp nhận một phần kháng nghị số 01 ngày 30/12/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát Quận T.

Do Viện kiểm sát kháng nghị bản án của Tòa án theo thủ tục sơ thẩm nên không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận một phần kháng nghị số 01/QDKNPT–VKS-DS ngày 30/12/2019 của Viện kiểm sát Quận T.

Sửa bản án sơ thẩm số 580/2019/DS-ST ngày 17/12/2019 của Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên Xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

- Buộc Ông Mai Văn L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số nợ theo Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 05/TC125/2011 ngày 17/5/2011, tạm tính đến ngày 17/12/2019 là 2.808.355.612 (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng, trong đó, dư nợ gốc là 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng, lãi quá hạn 2.208.355.612 (Hai tỷ hai trăm lẻ tám triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm mười hai) đồng.

- Thời hạn thi hành: Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Địa điểm thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Kể từ ngày 18/12/2019, Ông Mai Văn L còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận ghi trong Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 05/TC125/2011 ngày 17/5/2011 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

[2] Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Mai Văn L phải chịu án phí là 88.167.112 (Tám mươi tám triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm mười hai) đồng.

- Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 44.841.758 (Bốn mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi tám) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0012204 ngày 14/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 396/2020/DS-PT ngày 26/05/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:396/2020/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về