Bản án 39/2020/HNGĐ-ST ngày 19/11/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 39/2020/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại Nhà văn hóa khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 299/2020/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 02/11/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc C (tức: Nguyễn Văn H), sinh năm 1965

Bị đơn: Đỗ Thị Th, sinh năm 1965 Đều cư trú: Khu dân cư số 13, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn và bị đơn trình bày:

Ông C và bà Th được tự do tìm hiểu và tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 1990. Ông bà được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, ông bà về sống với nhau tại khu dân cư số 13, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Ông bà sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 05 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân cơ bản là do bất đồng với nhau về quan điểm sống, tính cách không hợp nhau dẫn đến việc thường xuyên cãi nhau làm cho tình cảm bị sứt mẻ. Đến năm 1999 thì ông bà sống ly thân từ đó cho đến nay không quan tâm đến nhau. Nay cả hai đều xác định không còn tình cảm với nhau, ông C xin ly hôn, bà Th đồng ý.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Nguyễn Văn H, sinh năm 1991, đã trên 18 tuổi, khỏe mạnh bình thường nên cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh Nguyễn Ngọc C (tức Nguyễn Văn H) và và Đỗ Thị Th là vợ chồng.

- Về con chung và tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Ông C (tức H) phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu xin ly hôn của ông C: Ông C và bà Th tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 1990, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương. Việc ông bà chung sống với nhau nhiều người đều biết. Ông bà đều trình bày không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật phù hợp với kết quả xác minh tại UBND phường P và Phòng tư pháp thành phố C. Nên, có căn cứ xác định ông bà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa ông C và bà Th là không hợp pháp, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống ông bà chỉ sống hòa thuận được khoảng 05 năm rồi xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân hơn 20 năm nay không quan tâm đến nhau. Nay, cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm với nhau và có yêu cầu ly hôn, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình để tuyên bố không công nhận ông C và bà Th là vợ chồng.

[2.2] Về con chung: Con chung của ông bà là Nguyễn Văn H, sinh năm 1991, hiện đã trên 18 tuổi, khỏe mạnh bình thường, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Ông C và bà Th không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyêt nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về án phí: Ông C là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Ngọc C (tức Nguyễn Văn H) và bà Đỗ Thị Th là vợ chồng.

- Về con chung và tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc C (tức Nguyễn Văn H) phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông C (tức H) đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0006633 ngày 29/10/2020 của C cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ông C (tức H) đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2020/HNGĐ-ST ngày 19/11/2020 về ly hôn

Số hiệu:39/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Chí Linh - Hải Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về