Bản án 39/2019/HSST ngày 04/11/2019 về tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 39/2019/HSST NGÀY 04/11/2019 VỀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2019/HSST ngày 11/9/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/ 2019//HSST-QĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

1. Bị cáo Bùi Văn L, tên gọi khác: không; sinh ngày: 02/12/1988. NĐKHKTT: xóm LĐ, xã KB, huyện KB, tỉnh HB; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M, sinh năm 1961, con bà Bùi Thị H, sinh năm 1962; gia đình có ba anh em, bị cáo là thứ hai; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 21/02/2011 bị Công an huyện Kim Bôi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; bản án số 135/HSPT ngày 11 tháng 9 năm 2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tuyên phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản, ngày 24/01/2017 chấp hành xong.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.

2. Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Bùi Văn L1, sinh năm 1986, trú tại: xóm Đ, xã CD, huyện LS, tỉnh HB, có mặt.

- Anh Nguyễn Nhƣ Đ, sinh năm 1964 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho anh Đ là chị Bùi Thị T, sinh năm 1965 (vợ của Nguyễn Như Đ), trú tại: thôn TL, xã PK, huyện TT, TP HN, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 10/6/2019, tổ công tác Công an huyện Kim Bôi kiểm tra, phát hiện bắt quả tang trong bàn tay trái của Bùi Văn L có 01 (một) gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trằng, dạng cục. Bùi Văn L khai là ma túy, loại Heroin mua của người lạ mặt tại thành phố Hòa Bình.

Quá trình điều tra Bùi Văn L khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 10/6/2019 Bùi Văn L điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 33L1 – 4423 đi từ xã Kim Bình, huyện Kim Bôi n thành phố Hòa Bình để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực gần cổng bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, Lâm mua 01 gói ma túy với số tiền 100.000 đồng của người đàn ông lạ mặt, sau đó Lâm điều khiển xe mô tô đi về Kim Bôi, đến đoạn đường bê tông gần nghĩa trang thuộc xóm Lục Đồi, Kim Bình, Kim Bôi, Hòa Bình thì bị tổ công tác Công an huyện Kim Bôi kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Tại bản kết luận giám định số: 143/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 17/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “Chất bột dạng màu trắng trong phong bì niêm phong kín có ghi tên gửi giám định có khối lượng 0,13g (không phẩy mười ba là ma tuý, loại Heroine”

Cáo trạng số 37/CT – VKS ngày 10/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã n u ở trên.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi giữ quyền công tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Văn L. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Văn L từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng điều 47 BL S, điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình bên trong có chứa mẫu vật chất ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho anh Bùi Văn L1 - chủ quản lý hợp pháp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream on ai và 01 đăng ký xe m tô mang tên Nguyễn Như Đ, Biển kiểm soát 33L1 – 4423, số khung: L 3 LGO 2V 10813440, số máy 1P50 MG3 10613768, xe c , đã qua sử dụng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo Bùi Văn L: Đồng ý về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị. Không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Bùi Văn L: Đề nghị Đ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 Trê n ơ sở nội dung vụ án, n ứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hộ đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện Kim Bôi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, nội dung kết luận điều tra, cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 10/6/2019, Bùi Văn L đi xe máy n thành phố Hòa Bình mua 01 gói ma túy loại hêroin của người đàn ng không quen biết với giá 100.000đ mục đích để sử dụng. Tr n đường về đến đường b t ng g n ngh a trang thuộc xóm Lục Đồi, Kim Bình, Kim Bôi, òa Bình thì bị tổ công tác Công an huyện Kim Bôi bắt quả tang hành vi tàng trứ trái phép một gói ma túy có khối ượng 0,13g là Heroin. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên à có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản ý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự an ninh tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nghiêm trọng khác, do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng Luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo à người có đủ năng ực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật, do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho Bùi Văn L vào ngày 10/6/2019 tại khu vực phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình. Quá trình điều tra không xác định được cụ thể là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý, Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Bùi Văn L không có tình tiết tăng nặng; nhân thân: Năm 2011 đã bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng và tại bản án số 135/HSPT ngày 11/9/2014 của TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm tù về tội cướp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 24/1/2017.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là ao động tự do, không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 0,13g ma túy Heroin là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream on ai, biển kiểm soát 33L1 – 4423, Bùi Văn L khai mượn của anh trai Bùi Văn L1 để đi mua ma túy, anh L1 khai cho em trai là L mượn xe nhưng không biết L đi mua ma túy. Về nguồn gốc xe mô tô anh L1 khai năm 2010 mua xe máy ở của hàng bán xe máy thuộc huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội nhưng không nhớ địa chỉ, không có giấy tờ mua bán, chỉ có Đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Như Đ. Qua điều tra xác định anh Nguyễn Như Đ đã chết, chị Bùi Thị T sinh năm 1965, tr tại tthôn TL, xã PK, huyện TT, TP HN, là vợ anh Đ xácầnhận, xe máy này anh Đ mua để sử dụng, sau đó đã bán nhưng không biết người mua xe là ai. Như vậy xe máy thuộc quyền quản lý hợp pháp của anh Bùi Văn L1. Xét thấy anh Bùi Văn L1 không biết bị cáo L dùng xe máy vào việc phạm tội nên cần trả lại xe máy cho anh L1.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 18 ( mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/06/2019.

3. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, một mặt ghi “Mẫu giám định ma túy”, ghi số thông báo kết uận giám định: 143 ngày 17 tháng 6 năm 2019, tên đối tượng: Bùi Văn L, mép dán có dấu có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hoà Bình và chữ ký của các thành ph n tham gia niêm phong.

- Trả lại cho Bùi Văn L1 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Dream honlai và 01 đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Như Đ. Biển kiểm soát 33L1–4423, màu sơn tím than, số khung: L 3 LGOA2VAA 10813440, số máy PEMG3 10613768. Tình trạng xe c đã qua sử dụng, không có khóa, không có yếm, không gương chiếu hậu, rè trước của xe bị vỡ, các bộ phận của xe hư hỏng nặng, không kiểm tra các bộ phận chất lượng bên trong của xe.

(Hiện trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 9 năm 2019 của chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình).

4. Về án phí: Căn cứ điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQ14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2019/HSST ngày 04/11/2019 về tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:39/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Bôi - Hoà Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về