Bản án 39/2019/HS-PT ngày 29/03/2019 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 39/2019/HS-PT NGÀY 29/03/2019 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2019/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Xuân V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Toà án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Xuân V, sinh năm 1995 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Bon B, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T sinh năm 1966 và bà Thiều Thị M sinh năm 1967; có vợ là Trần Thị Tuyết H sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2018; tại ngoại - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 ngày 01-9-2018 Nguyễn Xuân T đi từ xã Đ, huyện K về nhà ở thôn N, xã N, huyện K. Trên đường đi về, T thấy tiệm áo cưới H tại thôn N, xã N do anh Lê Duy V1 làm chủ không có người ở nhà nên T đi vòng ra phía sau hông nhà thấy có một cánh cửa bằng gỗ, khung sắt, nên T dùng tay giật mạnh khung sắt và theo lỗ trống chui vào trong nhà lấy 01 máy ảnh Nikon và 01 CPU của máy tính bỏ vào vali rồi xách bộ về nhà cất giấu.

Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày, T lấy xe máy của gia đình đi đến nhà Nguyễn Đức K rủ K và Nguyễn Văn Tr cùng đến nhà anh V1 để trộm cắp tài sản, thì K và Tr đồng ý. T điều khiển xe máy của gia đình T, K điều khiển xe máy của gia đình K chở Tr đi đến nhà anh V1. Khi đến nơi, Tr đứng canh ở ngoài cửa còn T và K vào trong nhà khiêng 01 tủ nhựa bên trong có đựng quần áo ra ngoài. K lấy xe máy chở tủ nhựa về nhà T cất giấu, còn T tiếp tục ở lại để tìm tài sản. Khoảng 15 phút sau K, Tr quay trở lại cùng với T lấy 02 chiếc máy bơm (01 máy bơm chìm 3 pha/2,5 KW, 01 máy bơm chìm 1 pha/2 KW), 01 máy ép FLASTIC, linh kiện CPU, bộ sạch pin và nhiều tài sản khác chở về nhà của T cất giấu.

Ngày 02-9-2018 khi đi làm rẫy T đã nói cho em trai là Nguyễn Xuân V biết việc T lấy trộm 02 chiếc máy bơm tại nhà anh V1 và nhờ V tìm chỗ bán thì V đồng ý. Ngày 03-9-2018 V chở T mang 02 chiếc máy bơm đến tiệm điện cơ X tại thôn Đ, xã Đ, huyện K bán được 400.000 đồng. Sau khi có tiền, T dùng để mua xăng, trả nợ và cùng V tiêu xài hết. Đến khoảng 09 giờ ngày 02-09-2018 anh Lê Duy V1 phát hiện bị mất trộm tài sản và đến trình báo với Cơ quan Công an huyện Krông Nô.

Tại các Bản kết luận định giá tài sản số: 34 ngày 05/9/2018, số 35 ngày 07/9/2018, số 47 ngày 26/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: Tổng giá trị tài sản được định giá tại thời điểm ngày 01/9/2018 là33.510.000 đồng. Trong đó giá trị của 02 máy bơm nước là 3.360.000  đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2019/HS-ST ngày 17-01- 2019 của Toà án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Áp dụng khoản 1 Điêu 323; các điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân V 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 21/01/2019, bị cáo Nguyễn Xuân V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân V vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và phiên toà sơ thẩm, bị cáo thừa nhận Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng pháp luật, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông sau khi phân tích cácchứng cứ buộc tội và các tình tiết giảm  nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Ngày 03-9-2018, Nguyễn Xuân V biết được Nguyễn Xuân T trộm cắp được 02 chiếc máy bơm chìm trị giá 3.360.000 đồng. Khi được T nhờ tìm nơi bán hộ 02 chiếc máy bơm, V đồng ý và chở T đến tiệm điện cơ X ở thôn Đ, xã Đ, huyện K bán được 400.000 đồng và tiêu xài hết số tiền trên. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HS-ST ngày 17-01- 2019 của Toà án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã kết án bị cáo Nguyễn Xuân V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

 [2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V, Hội đồng xét xử xét xét thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ là tài sản mà bị cáo tiêu thụ có giá trị không lớn (02 chiếc máy bơm trị giá 3.600.000 đồng); bị cáo là em ruột của bị cáo Nguyễn Xuân T; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Xét thấy, bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số: 02/2018/HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

 [3]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

 [4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điêu 323; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân V 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân V cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyên K, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


59
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về