Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 15/01/2019 về ly hôn 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 39/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 15-01-2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 515/2018/TLST-HNGĐ ngày 04-12-2018 về việc “Ly hôn, giải quyết nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24-12-2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Bích V - sinh năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số 75 ngõ 166 đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú tại: Số 73 ngõ 97 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Trần Quốc T - sinh năm 1984; Nơi cư trú tại: Số 75 ngõ 166 đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên toà chị V có mặt, anh T không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án và tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Uỷ ban nhân dân phường C, thành phố N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không chịu làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, nên chị đã đưa hai con về nhà bố mẹ chị ở; vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2015 đến nay, không quan tâm gì đến nhau nên chị xin ly hôn.

Anh T đồng ý với lời trình bày của chị V về điều kiện và hoàn cảnh kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh ham chơi, không lo làm ăn nên chị V đã bỏ về nhà mẹ ở từ năm 2015; hiện nay anh đã đi làm, có thu nhập ổn định và vẫn còn yêu thương vợ con vì vậy anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị V và anh T đều thống nhất trình bầy, vợ chồng có 02 con chung là Trần Hải H, sinh ngày 25-01-2013 và Trần Bảo C, sinh ngày 05-8-2015. Nếu ly hôn chị V xin trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con và anh T cũng xin trực tiếp nuôi dưỡng 02 con không yêu cầu chị Vân cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nhà đất và công nợ chung: Chị V và anh T đều thống nhất xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 14-12-2018, tổ trưởng tổ dân phố số 19, phường C, thành phố N xác nhận vợ chồng chị V, anh T có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc chị Vân bỏ đi nơi khác sống, và vợ chồng hiện nay đã sống ly thân.

Quan điểm của Kiểm sát viên: Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị xử ly hôn giữa chị V và anh T; về con chung giao cháu Trần Hải H cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Trần Bảo C cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng; chấp nhận sự tự nguyện của chị V, anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; ngoài ra còn được tống đạt Giấy triệu tập nhiều lần; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T không đến Tòa án giải quyết, không có lý do; vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Bích V và anh Trần Quốc T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Uỷ ban nhân dân phường C, thành phố N nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do anh T không chịu làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình nên chị V đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2015 đến nay không còn quan tâm gì đến nhau, nên chị V xin ly hôn; anh T trình bầy vẫn còn yêu thương vợ nên không muốn ly hôn. Tổ dân phố cũng xác nhận vợ chồng chị V anh T có mâu thuẫn nên chị V đã bỏ đi ở nơi khác, vợ chồng đã sống ly thân. Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị V và anh T khắc phục mâu thuẫn về đoàn tụ nhưng anh T đã bỏ về; Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định phiên tòa lần thứ hai nhưng anh T không đến mà không có lý do; chị V vẫn giữ quan điểm xin ly hôn và giải quyết con chung. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không còn trên thực tế, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử ly hôn giữa chị V và anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị Lê Bích V và anh Trần Quốc T có hai con chung là Trần Hải H, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2013 và Trần Bảo C, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2015. Chị V và anh T đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy chị V và anh T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung; hiện tại hai bên đều có việc làm và thu nhập ổn định đảm bảo được sự nuôi dưỡng, chăm sóc con. Vì vậy cần giao cho mỗi người nuôi một con chung; chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trần Bảo C, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2015; anh Trần Quốc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trần Hải H, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2013 là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị V và anh T đều tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không trái với qui định của pháp luật nên được ghi nhận.

[4] Về tài sản, nhà đất và công nợ chung: Chị Lê Bích V và anh Trần Quốc T không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị V phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lê Bích V và anh Trần Quốc T;

2. Về con chung: Giao chị Lê Bích V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Bảo C, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2015; anh Trần Quốc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Hải H, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2013. Chị Lê Bích V và anh Trần Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Chị Lê Bích V và anh Trần Quốc T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Bích V phải nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000339 ngày 04-12-2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Nam Định.

Chị Lê Bích V có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; và anh Trần Quốc T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.


79
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 15/01/2019 về ly hôn 

Số hiệu:39/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về