Bản án 39/2018/HS-ST ngày 21/03/2018 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 39/2018/HS-ST NGÀY 21/03/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Trong ngày 21 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu H, sinh năm 1974 tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà 446, đường L, tổ 8, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu C (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Ẩ; có vợ: Nguyễn Thị Hồng H, có 02 con sinh năm 1999 và năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; ngày 15 tháng 9 năm 2017 điều khiển xe ô tô gây tại nạn giao thông làm chết 01 người, ra đầu thú; ngày 12/10/2017, bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ đó đến nay. Có mặt.

- Người bị hại:

1. Bà Trần Thị V, sinh năm 1952 (đã chết).

2. Ông Đỗ Trung Đ, sinh năm 1950; địa chỉ cư trú: Tổ 14, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại Trần Thị V:

1. Anh Đỗ Trung Kh, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Tổ 14, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; là con đẻ của bà Trần Thị V. Vắng mặt.

2. Bà Đỗ Thị Kim Kh, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: Tổ 14, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; là con đẻ của bà Trần Thị V. Có mặt.

3. Bà Đỗ Thị Th, sinh năm: 1968; địa chỉ cư trú: Tổ 14, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; là con đẻ của bà Trần Thị V. Có mặt.

4. Ông Đỗ Trung Th, sinh năm 1970; địa chỉ cư trú: 18/3C, Ấp 2, Đông Thạnh, thị trấn H, huyện H, Thành phố H; là con đẻ của bà Trần Thị V. Vắng mặt.

-Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Ông Bùi Văn C, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Tổ 10, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Ông Trần Văn D, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Tổ 8, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

3. Bà Lý Lệ H, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Tổ 2, phường Tr, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

4. Ông Trần Đình L, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú: Tổ 7, phường Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/9/2017, Nguyễn Hữu H điều khiển xe ô tô biển số 81A-….. đi từ nhà ở của H tại số 446 đường L, tổ 8, phường Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai đến xưởng cơ khí của H tại số 295 đường L, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đến nơi, H để xe ô tô tại xưởng rồi đi bộ qua nhà ông Bùi Văn Ch ở tại số 280/1 đường L, tổ 10, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai để uống rượu cùng với các ông C, Trần Văn D, Th và H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Th và H). Tại đây, H có uống vài ly rượu thuốc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, sau khi cả nhóm uống hết khoảng 0,75 lít rượu thì H nghỉ rồi đi về xưởng và lấy xe ô tô biển số 81A-… để đi về nhà theo hướng từ Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Gia Lai đến ngã tư Lâm nghiệp với tốc độ khoảng 50 đến 60 km/h. Khi đi gần đến trước số nhà 519 đường L, tổ 4, phường Ch, thành phố P thì H phát hiện thấy phía trước bên phải cách đầu xe ô tô của H khoảng 05 đến 06 mét có xe máy biển số 81FA-… do ông Đỗ Trung Đ chở vợ là bà Trần Thị V đang lưu thông phía trước cùng chiều tại làn đường dành cho xe máy. Cùng lúc này, H phát hiện phía trước ở phần đường bên trái cách đầu xe ô tô của H khoảng 10 đến 12 mét có xe ô tô khách loại 12 chỗ ngồi (không xác định được biển số và người điều khiển) đang lưu thông ở giữa đường L theo hướng ngược chiều đến với tốc độ nhanh và lấn sang phần đường đang lưu thông của H. Thấy vậy, H giảm tốc độ và điều khiển xe ô tô biển số 81A-… đi chếch về hướng lề đường phía bên phải theo hướng đang lưu thông để tránh xe ô tô thì bên phải của đầu xe ô tô biển số 81A-… do H điều khiển đã tông vào phía sau của xe máy biển số 81FA-… do ông Điền điều khiển. Hậu quả: Ông Đ và bà V bị thương, được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai cấp cứu; xe máy biển số 81FA-… bị hư hỏng. Đến ngày 18/9/2017 thì bà V chết; ngày 20/9/2017, ông Đ ra viện để về nhà tiếp tục điều trị. Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, H đã đến Công an thành phố Pleiku để trình báo về vụ việc; Công an thành phố Pleiku đã đo nồng độ cồn của H, kết quả nồng độ cồn là 0,321 miligam/1 lít khí thở.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 355/TTPY của Trung tâm Pháp y tỉnh Gia Lai ngày 27/9/2017, kết luận bà Trần Thị V chết do: “Chấn thương sọ não hậu phẫu ngày thứ 3 + Đa chấn thương do tai nạn giao thông”.

Quá trình điều tra, người bị hại ông Đỗ Trung Đ và những người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Đỗ Trung Kh, bà Đỗ Thị Kim Kh, bà Đỗ Thị Th và ông Đỗ Trung Th đều thống nhất bãi nại cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKS, ngày 12 tháng 02 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố Nguyễn Hữu H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Hữu H khai: Thống nhất với lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan Cảnh sát Điều tra và lời khai trong giai đoạn truy tố, thể hiện: Vào khoảng 17 giờ ngày 15/9/2017, sau khi đã uống rượu cùng với một số người bạn, Nguyễn Hữu H điều khiển xe ô tô biển số 81A-…. để đi về nhà theo hướng từ Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Gia Lai đến ngã tư Lâm nghiệp với tốc độ khoảng 50 đến 60 km/h, đoạn đường này lúc đó có mưa nhỏ. Khi đi gần đến trước số nhà 519 đường L, tổ 4, phường Chi Lăng, thành phố P thì có xe ô tô đi ngược chiều nên H đánh xe sang bên phải vào làn đường dành cho xe mô tô và đã tông vào phía sau xe máy biển số 81FA-… do ông Đỗ Trung Đ chở vợ là bà Trần Thị V đang lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả: Ông Đ và bà V bị thương, được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai cấp cứu. Đến ngày 18/9/2017 thì bà V chết; ngày 20/9/2017, ông Điền ra viện để về nhà tiếp tục điều trị. Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, H đã đến Công an thành phố Pleiku để trình báo về vụ việc.

Người bị hại là ông Đỗ Trung Đ trình bày: Ông thống nhất với lời khai của ông đã khai tại cơ quan điều tra, cũng như lời khai của bị cáo H về nội dung sự việc xẩy ra tại nạn làm chết vợ của ông là bà Trần Thị V. Ông Đ đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo đưởng hưởng án treo, vì sau khi hậu quả xẩy ra thì bị cáo H đã rất quan tâm, chăm sóc sức khỏe của ông Đ. Đồng thời lo lắng, phục vụ hậu sự, mai táng cho bà Trần Thị V thực sự chu đáo và đã bồi thường cho gia đình với tổng số tiền 300.000.000 đồng.

Những người đại diện hợp pháp của người bị hại Trần Thị V là bà Đỗ Thị Kim Kh và bà Đỗ Thị Th trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Đỗ Trung Đ và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người làm chứng trong vụ án là ông Bùi Văn Ch, ông Trần Văn D, bà Lý Lệ H và ông Trần Đình L đều khai thống nhất với lời của họ trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo về việc trước khi gây ra tai nạn giao thông thì bị cáo Huấn có uống rượu tại nhà ông Ch.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Hữu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 260; các Điểm: b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; các Điều: 54, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc hường dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Hữu H: Từ 24 tháng đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách: Từ 48 tháng đến 60 tháng. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hữu H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan Điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 17 giờ ngày 15/9/2017, sau khi đã uống rượu, Nguyễn Hữu H điều khiển xe ô tô biển số 81A-…. lưu thông trên đường L hướng từ Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Gia Lai đến ngã tư Lâm nghiệp. Khi đi gần đến trước số nhà 519 đường L, tổ 4, phường Ch, thành phố P thì đã tông vào phía sau xe máy biển số 81FA-… do ông Đỗ Trung Đ chở vợ là bà Trần Thị V đang lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả của vụ tại nạn do bị cáo H gây ra là nghiêm trọng, vì đã làm chết bà Trần Thị V.

Nguyên nhân phạm tội là do Nguyễn Hữu H điều khiển xe ô tô tham gia giao thông khi đã sử dụng rượu; không giảm tốc độ của xe ô tô đến mức không nguy hiểm để đảm bảo an toàn giao thông khi trời mưa và khi phía trước ngược chiều có xe ô tô khách đang lưu thông đến với tốc độ nhanh và đang lấn đường của xe ngược chiều; xử lý kém khi tránh xe lưu thông ngược chiều và đi lấn sang làn đường của xe máy nên đã gây tai nạn giao thông.

Lỗi trong vụ án này thuộc về bị cáo, do vô ý vì quá tự tin.

Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều hợp pháp.

[4] Các tình tiết liên quan trong vụ án và quyết định hình phạt:

Tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Công an thành phố Pleiku đã đo nồng độ cồn của Huấn, kết quả nồng độ cồn là 0,321 miligam/1 lít khí thở. Như vậy, bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là: “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định…” nên bị cáo bị xét xử tại Điểm b Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các Điểm: b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, vì đã tự nguyện bồi thiệt thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền lớn; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và thực sự thể hiện sự ăn năn hối cải, thăm hỏi và chăm sóc chu đáo đối với người bị hại là ông Đỗ Trung Đ; phục vụ chu đáo cho gia đình bị hại trong việc lo mai táng cho bà Trần Thị V; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, chưa có tiền sự, là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng được chính quyền địa phương xác nhận; gia đình bị cáo có công với cách mạng; người bị hại và những người đại diện hợp pháp của người bị hại đều bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Qua xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Tòa án quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật nhưng vẫn đảm bảo được tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Trách nhiệm dân sự: Người bị hại và những người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên không xét đến.

[6] Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố P đã xử lý vật chứng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 260; các Điểm: b, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc hường dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 21 tháng 3 năm 2018.

Giao các bị cáo Nguyễn Hữu H cho Uỷ ban nhân dân phường Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành hành án hình sự.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải nộp 200.000 (bằng chữ: Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo: Căn cứ vào các Điều: 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Báo cho: Bị cáo Nguyễn Hữu H, người bị hại là ông Đỗ Trung Đ và người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Đỗ Thị Kim Kh và bà Đỗ Thị Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (21/3/2018). Những người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.


128
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về