Bản án 39/2017/HSST ngày 23/08/2017 về tội bắt giữ người trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 39/2017/HSST NGÀY 23/08/2017 VỀ TỘI BẮT GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2017/HSST, ngày 30 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Mí C, tên gọi khác: Và Mí C; S năm 1994 tại tỉnh Hà Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu và trú tại: Xóm C, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: H’Mông; con ông Vàng Sìa D (đã chết) và bà Và Thị M, S năm 1962, có vợ là Thò Thị S, S năm 1997 và 01 con; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2017: có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:   Ông Y – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Nông: có mặt

- Người bị hại: Mùa Mí L, S năm 1987; địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh ĐắkNông: có mặt

- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ông Phạm Quang L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Nông: có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do L Văn D bị Vàng Mí C gọi điện thoại di động chửi mắng nên khoảng 19 giờ ngày 17/11/2012, L Văn D rủ Mùa Mí L đến nhà Hoàng Văn C để nói chuyện với Vàng Mí C thì giữa L Văn D và Vàng Mí C xảy ra xô xát, L Văn D gọi điện báo cho Hầu Minh P (Công an viên thôn Năm Tầng, xã Đắk Rla) và ông L Văn D1 (là bố đẻ L Văn D và là thôn trưởng thôn N, xã Đ) đến giải quyết sự việc. Do Vàng Mí C đến S sống tại địa phương nhưng không đăng ký tạm trú nên anh Hầu Minh P yêu cầu Vàng Mí C về nhà ông L Văn D1 để lập biên bản để xử lý hành chính rồi cho Vàng Mí C về.

Đến 22 giờ ngày 17/11/2012, Vàng Mí C rủ Vàng Mí L và Hoàng Văn C uống rượu tại nhà của ông Hoàng Văn C (ông Hoàng Văn C cho Vàng Mí C mượn nhà để ở). Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 18/11/2012, trong lúc uống rượu Vàng Mí C kể lại sự việc xảy ra lúc 19 giờ ngày 17/11/2012 cho Vàng Mí L và Hoàng Văn C nghe thì Vàng Mí L rủ Vàng Mí C và Hoàng Văn C đến nhà Mùa Mí L để nói chuyện thì được cả bọn đồng ý. Sau đó Vàng Mí C xuống nhà lấy 02 con dao (theo lời khai có kích thước dài 35cm, rộng 3,5cm) rồi cùng Vàng Mí L, Hoàng Văn C đến nhà Mùa Mí L. Khi đến nơi Vàng Mí L gọi cửa thì được Mùa Mí L ra mở cửa. Khi thấy Mùa Mí L, Vàng Mí L đã dùng một tay túm cổ áo, còn một tay đấm một cái trúng vào mặt Mùa Mí L làm Mùa Mí L ngã xuống đất, sau đó Vàng Mí C và Hoàng Văn C kéo Mùa Mí L ra ngoài sân để đưa về nhà Hoàng Văn C, khi ra ngoài sân Vàng Mí L cầm cổ áo Mùa Mí L để kéo đi, Vàng Mí C và Hoàng Văn C cầm dao đi bên cạnh khống chế không cho Mùa Mí L bỏ chạy.

Khi về đến nhà Hoàng Văn C thì Vàng Mí L, Vàng Mí C và Hoàng Văn C đưa Mùa Mí L vào trong nhà, Vàng Mí L ra đóng cửa lại và cho Mùa Mí L ngồi trên ghế nhựa trong nhà, rồi cả bọn dùng tay, chân thay nhau đánh vào người Mùa Mí L (nhưng không gây thương tích). Sau đó Hoàng Văn C xuống bếp lấy 01 cái búa bổ củi cùng Vàng Mí C cầm dao đứng canh ở cửa nhà ra vào không cho Mùa Mí L bỏ chạy. Lúc này Sùng Thị S đến xin Vàng Mí L và đồng bọn thả Mùa Mí L ra thì Vàng Mí L không đồng ý và yêu cầu Sùng Thị S đến gọi Hầu Minh P và L Văn D1 đến để đánh trả thù.

Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, sau khi nhân được tin báo của Sùng Thị S về sự việc, Hầu Minh P, L Văn D1, L Văn Lành và Lí Văn S đến nhà Hoàng Văn C giải quyết sự việc, khi đến nơi Hầu Minh P cầm đèn pin đến đẩy cửa nhà của Hoàng Văn C để đi vào, ngay lập tức Vàng Mí L dùng dao chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống trúng vào bàn tay trái của Hầu Minh P, Hầu Minh P và Mùa Mí L bỏ chạy. Vàng Mí L cầm dao đuổi theo thì gặp L Văn D1 nên đã dùng dao chém 01 nhát vào tay phải của L Văn D1 nhưng không gây thương tích rồi cùng Vàng Mí C và Hoàng Văn C bỏ trốn. Đến ngày 13/4/2017, Vàng Mí C bị bắt theo Lệnh truy nã của Công an huyện Đắk Mil.

Tại Bản cáo trạng số: 42/CTr–VKS ngày 29/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Vàng Mí C về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng Mí C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố.

Trợ giúp viên pháp lý ông Y là người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Vàng Mí C về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: do có một phần lỗi của người bị hại, bị cáo bị đe dọa, đánh đập; phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo , ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, trình độ hiểu biết pháp luật ít; thực hiện hành vi phạm tội không quyết liệt; bị cáo có mẹ già và có con mới S nên đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử bị cáo 09 (chín) tháng tù.

Người bị hại anh Mùa Mí L: Không yêu cầu  bị cáo bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý ông Phạm Quang L là người bảo vệ quyền lợi ích cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo thực hiện hành vị xong bỏ trốn trong một thời gian dài lẽ ra phải nhận thức được và ra đầu thú; bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần; liên tiếp thực hiện hành vi mà lẽ ra bị cáo phải ngăn cản người khác thực hiện hành vi vị phạm pháp luật; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và đề nghị xử ở mức cao nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định định truy tố, căn cứ nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng Mí C phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 123; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo Vàng Mí C mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt truy nã, ngày 13/4/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Mùa Mí L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Đã được giải quyết theo Bản án số 12/2014/HSST, ngày 24/03/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại, các trợ giúp viên pháp lý đều không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng Mí C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Khoảng 03 giờ ngày 18/11/2012, tại thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, xuất phát từ việc Vàng Mí C xảy ra xô xát với Mùa Mí L và bị anh Hầu Minh P là công an viên thôn và ông L Văn D1 là trưởng thôn lập biên bản để xử phạt vi phạm hành chính nên Vàng Mí L, Vàng Mí C và Hoàng Văn C đã mang theo 02 con dao đi đến nhà Mùa Mí L dùng tay, chân đánh Mùa Mí L (nhưng không gây thương tích) rồi Vàng Mí L cầm cổ áo kéo đi, Vàng Mí C và Hoàng Văn C dùng dao khống chế đưa Mùa Mí L về nhà Hoàng Văn C đóng cửa lại thay nhau dùng tay, chân đánh Mùa Mí L (nhưng không gây thương tích). Hoàng Văn C xuống bếp lấy 01 cái búa bổ củi cùng Vàng Mí C cầm dao đứng ở cửa canh không cho Mùa Mí L bỏ chạy. Khi Sùng Thị S (là vợ Mùa Mí L) đến xin Vàng Mí L và đồng bọn thả Mùa Mí L ra nhưng Vàng Mí L không đồng ý và yêu cầu Sùng Thị S đến gọi Hầu Minh P và ông L Văn D1 đến để đánh trả thù. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, Hầu Minh P mặc sắc phục Công an viên, L Văn D1 là thôn trưởng cùng L Văn Lành và Lí Văn S là an ninh thôn N, xã Đ đến nhà Hoàng Văn C để yêu cầu Vàng Mí L thả Mùa Mí L ra thì Vàng Mí L dùng một con dao chém một nhát trúng vào bàn tay trái của Hầu Minh P làm Hầu Minh P bị thương tích với tỷ lệ là 18% và dùng dao chém một nhát vào cánh tay phải của L Văn D1 nhưng không gây thương tích rồi Vàng Mí L, Vàng Mí C và Hoàng Văn C rủ nhau bỏ trốn.

Như vậy, hành vi cầm cổ áo kéo đi và dùng dao khống chế bắt Mùa Mí L về nhà của ông Hoàng Văn C nhốt, dùng tay, chân đánh vào người của Mùa Mí L và cầm dao đứng ở cửa canh không cho Mùa Mí L bỏ chạy của Vàng Mí L, Vàng Mí C và Hoàng Văn C đã cấu thành tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Bị cáo Vàng Mí C phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Điều 123 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Vàng Mí C là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ và quyền tự do dân chủ của anh Mùa Mí L được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương và bị cáo Vàng Mí C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra và bị bắt theo lệnh truy nã của cơ quan Công an huyện Đắk Mil. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức về mặt pháp luật còn hạn chế, do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Mùa Mí L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Đã được giải quyết tại Bản án số 12/2014/HSST, ngày 24/03/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil nên không xem xét giải quyết.

- Đối với hành vi bắt, giữ người trái pháp luật và cố ý gây thương tích của Vàng Mí L đã được xử lý theo Bản án số: 12/2014/HSST ngày 24/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil và hành vi bắt, giữ người trái pháp luật của Hoàng Văn C đã được xử lý theo Bản án số: 17/2017/HSST ngày 19/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil nên không xem xét giải quyết.

- Đối với hành vi của Vàng Mí L, Vàng Mí C và Hoàng Văn C dùng tay, chân đánh Mùa Mí L nhưng chỉ gây thương tích nhẹ, không điều trị tại cơ sở y tế và không có đơn yêu cầu khởi tố. Hành vi của Vàng Mí L dùng dao chém L Văn D1 nhưng không gây thương tích nên không có căn cứ để xử lý trước pháp luật.

- Đối với Hoàng Văn C lúc xảy ra sự việc trên do không có ở nhà, không biết nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Vàng Mí C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo: Vàng Mí C phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 123; điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử phạt: Bị cáo Vàng Mí C 01 (Một) năm tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt truy nã, ngày 13/4/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Mùa Mí L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

3. Về vật chứng của vụ án: Đã được giải quyết theo Bản án số 12/2014/HSST, ngày 24/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vàng Mí C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. 

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


126
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2017/HSST ngày 23/08/2017 về tội bắt giữ người trái pháp luật

Số hiệu:39/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Mil - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về